Đinh Thị Thương

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Đinh Thị Thương
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1 (khoảng 200 chữ)

Trong bài thơ Tống biệt hành, Thâm Tâm đã xây dựng thành công hình tượng “li khách” mang vẻ đẹp của con người sống có lí tưởng và khát vọng lớn lao. Đó là người thanh niên dám từ bỏ tình cảm riêng tư, gia đình và quê hương để lên đường thực hiện “chí nhớn”. Qua những câu thơ như: “Chí nhớn chưa về bàn tay không/ Thì không bao giờ nói trở lại”, người li khách hiện lên với ý chí mạnh mẽ, quyết tâm và bản lĩnh phi thường. Tuy nhiên, ẩn sau vẻ cứng cỏi ấy vẫn là một tâm hồn giàu tình cảm. Người ra đi không hề vô tâm trước nỗi buồn của mẹ già, chị gái hay em thơ. Cuộc chia tay đầy lưu luyến đã cho thấy sự giằng xé nội tâm giữa khát vọng lên đường và tình cảm gia đình sâu nặng. Bằng giọng thơ vừa bi tráng vừa lãng mạn, Thâm Tâm đã khắc họa hình tượng li khách đẹp đẽ, tiêu biểu cho lớp thanh niên thời bấy giờ: sống có lí tưởng, có trách nhiệm và dám hi sinh vì điều lớn lao hơn bản thân mình.


Câu 2 (khoảng 600 chữ)

Trong hành trình trưởng thành của mỗi con người, sẽ có lúc ta phải tự mình bước đi trên con đường riêng của cuộc đời. Không ai có thể ở bên giúp đỡ ta mãi mãi. Chính vì vậy, sự tự lập là một phẩm chất vô cùng quan trọng đối với tuổi trẻ hôm nay.

Tự lập là khả năng tự suy nghĩ, tự hành động và tự chịu trách nhiệm về cuộc sống của bản thân mà không phụ thuộc, dựa dẫm vào người khác. Người có tính tự lập luôn chủ động trong học tập, công việc và cuộc sống. Họ biết tự giải quyết khó khăn, tự đứng dậy sau thất bại và không ngừng cố gắng để hoàn thiện bản thân.

Sự tự lập có ý nghĩa rất lớn đối với tuổi trẻ. Trước hết, tự lập giúp con người trưởng thành hơn trong suy nghĩ và hành động. Khi tự mình đối mặt với khó khăn, ta sẽ học được cách giải quyết vấn đề, biết chịu trách nhiệm với quyết định của mình. Những trải nghiệm ấy giúp tuổi trẻ trở nên mạnh mẽ, bản lĩnh và tự tin hơn. Bên cạnh đó, tự lập còn giúp con người khám phá năng lực của bản thân. Chỉ khi dám bước ra khỏi vùng an toàn, ta mới nhận ra khả năng và giá trị thật sự của mình. Tự lập cũng là điều kiện để mỗi người đạt được thành công trong tương lai, bởi không ai có thể mãi sống dựa vào cha mẹ hay người khác.

Trong thực tế, nhiều bạn trẻ ngày nay đã sớm rèn luyện tính tự lập. Có những học sinh tự giác học tập, biết phụ giúp gia đình, tự định hướng tương lai cho mình. Nhiều sinh viên vừa học vừa làm để trang trải cuộc sống và tích lũy kinh nghiệm. Chính sự chủ động ấy đã giúp họ trưởng thành và dễ dàng thích nghi với cuộc sống hiện đại. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn không ít bạn trẻ sống dựa dẫm, ỷ lại vào gia đình. Có người thiếu kĩ năng sống cơ bản, gặp khó khăn nhỏ đã chán nản hoặc bỏ cuộc. Điều đó khiến họ dễ thất bại và khó thích nghi khi bước vào đời.

Để rèn luyện tính tự lập, mỗi người trẻ cần bắt đầu từ những việc nhỏ nhất như tự giác học tập, biết quản lí thời gian và tự chịu trách nhiệm với hành động của mình. Tuổi trẻ cũng cần mạnh dạn đối mặt với khó khăn thay vì né tránh hay phụ thuộc vào người khác. Gia đình và nhà trường nên tạo điều kiện để con cái được trải nghiệm, được tự quyết định và học cách chịu trách nhiệm thay vì bao bọc quá mức.

Tự lập không có nghĩa là sống tách biệt hay từ chối sự giúp đỡ của mọi người, mà là biết chủ động làm chủ cuộc sống của mình. Tuổi trẻ chỉ thực sự trưởng thành khi biết tự bước đi bằng đôi chân của chính mình. Vì vậy, mỗi người hãy rèn luyện tính tự lập ngay từ hôm nay để có đủ bản lĩnh vượt qua thử thách và vững vàng trên con đường tương lai.


Câu 1 (khoảng 200 chữ)

Trong bài thơ Tống biệt hành, Thâm Tâm đã xây dựng thành công hình tượng “li khách” mang vẻ đẹp của con người sống có lí tưởng và khát vọng lớn lao. Đó là người thanh niên dám từ bỏ tình cảm riêng tư, gia đình và quê hương để lên đường thực hiện “chí nhớn”. Qua những câu thơ như: “Chí nhớn chưa về bàn tay không/ Thì không bao giờ nói trở lại”, người li khách hiện lên với ý chí mạnh mẽ, quyết tâm và bản lĩnh phi thường. Tuy nhiên, ẩn sau vẻ cứng cỏi ấy vẫn là một tâm hồn giàu tình cảm. Người ra đi không hề vô tâm trước nỗi buồn của mẹ già, chị gái hay em thơ. Cuộc chia tay đầy lưu luyến đã cho thấy sự giằng xé nội tâm giữa khát vọng lên đường và tình cảm gia đình sâu nặng. Bằng giọng thơ vừa bi tráng vừa lãng mạn, Thâm Tâm đã khắc họa hình tượng li khách đẹp đẽ, tiêu biểu cho lớp thanh niên thời bấy giờ: sống có lí tưởng, có trách nhiệm và dám hi sinh vì điều lớn lao hơn bản thân mình.


Câu 2 (khoảng 600 chữ)

Trong hành trình trưởng thành của mỗi con người, sẽ có lúc ta phải tự mình bước đi trên con đường riêng của cuộc đời. Không ai có thể ở bên giúp đỡ ta mãi mãi. Chính vì vậy, sự tự lập là một phẩm chất vô cùng quan trọng đối với tuổi trẻ hôm nay.

Tự lập là khả năng tự suy nghĩ, tự hành động và tự chịu trách nhiệm về cuộc sống của bản thân mà không phụ thuộc, dựa dẫm vào người khác. Người có tính tự lập luôn chủ động trong học tập, công việc và cuộc sống. Họ biết tự giải quyết khó khăn, tự đứng dậy sau thất bại và không ngừng cố gắng để hoàn thiện bản thân.

Sự tự lập có ý nghĩa rất lớn đối với tuổi trẻ. Trước hết, tự lập giúp con người trưởng thành hơn trong suy nghĩ và hành động. Khi tự mình đối mặt với khó khăn, ta sẽ học được cách giải quyết vấn đề, biết chịu trách nhiệm với quyết định của mình. Những trải nghiệm ấy giúp tuổi trẻ trở nên mạnh mẽ, bản lĩnh và tự tin hơn. Bên cạnh đó, tự lập còn giúp con người khám phá năng lực của bản thân. Chỉ khi dám bước ra khỏi vùng an toàn, ta mới nhận ra khả năng và giá trị thật sự của mình. Tự lập cũng là điều kiện để mỗi người đạt được thành công trong tương lai, bởi không ai có thể mãi sống dựa vào cha mẹ hay người khác.

Trong thực tế, nhiều bạn trẻ ngày nay đã sớm rèn luyện tính tự lập. Có những học sinh tự giác học tập, biết phụ giúp gia đình, tự định hướng tương lai cho mình. Nhiều sinh viên vừa học vừa làm để trang trải cuộc sống và tích lũy kinh nghiệm. Chính sự chủ động ấy đã giúp họ trưởng thành và dễ dàng thích nghi với cuộc sống hiện đại. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn không ít bạn trẻ sống dựa dẫm, ỷ lại vào gia đình. Có người thiếu kĩ năng sống cơ bản, gặp khó khăn nhỏ đã chán nản hoặc bỏ cuộc. Điều đó khiến họ dễ thất bại và khó thích nghi khi bước vào đời.

Để rèn luyện tính tự lập, mỗi người trẻ cần bắt đầu từ những việc nhỏ nhất như tự giác học tập, biết quản lí thời gian và tự chịu trách nhiệm với hành động của mình. Tuổi trẻ cũng cần mạnh dạn đối mặt với khó khăn thay vì né tránh hay phụ thuộc vào người khác. Gia đình và nhà trường nên tạo điều kiện để con cái được trải nghiệm, được tự quyết định và học cách chịu trách nhiệm thay vì bao bọc quá mức.

Tự lập không có nghĩa là sống tách biệt hay từ chối sự giúp đỡ của mọi người, mà là biết chủ động làm chủ cuộc sống của mình. Tuổi trẻ chỉ thực sự trưởng thành khi biết tự bước đi bằng đôi chân của chính mình. Vì vậy, mỗi người hãy rèn luyện tính tự lập ngay từ hôm nay để có đủ bản lĩnh vượt qua thử thách và vững vàng trên con đường tương lai.


Câu 1 (khoảng 200 chữ)

Trong bài thơ Tống biệt hành, Thâm Tâm đã xây dựng thành công hình tượng “li khách” mang vẻ đẹp của con người sống có lí tưởng và khát vọng lớn lao. Đó là người thanh niên dám từ bỏ tình cảm riêng tư, gia đình và quê hương để lên đường thực hiện “chí nhớn”. Qua những câu thơ như: “Chí nhớn chưa về bàn tay không/ Thì không bao giờ nói trở lại”, người li khách hiện lên với ý chí mạnh mẽ, quyết tâm và bản lĩnh phi thường. Tuy nhiên, ẩn sau vẻ cứng cỏi ấy vẫn là một tâm hồn giàu tình cảm. Người ra đi không hề vô tâm trước nỗi buồn của mẹ già, chị gái hay em thơ. Cuộc chia tay đầy lưu luyến đã cho thấy sự giằng xé nội tâm giữa khát vọng lên đường và tình cảm gia đình sâu nặng. Bằng giọng thơ vừa bi tráng vừa lãng mạn, Thâm Tâm đã khắc họa hình tượng li khách đẹp đẽ, tiêu biểu cho lớp thanh niên thời bấy giờ: sống có lí tưởng, có trách nhiệm và dám hi sinh vì điều lớn lao hơn bản thân mình.


Câu 2 (khoảng 600 chữ)

Trong hành trình trưởng thành của mỗi con người, sẽ có lúc ta phải tự mình bước đi trên con đường riêng của cuộc đời. Không ai có thể ở bên giúp đỡ ta mãi mãi. Chính vì vậy, sự tự lập là một phẩm chất vô cùng quan trọng đối với tuổi trẻ hôm nay.

Tự lập là khả năng tự suy nghĩ, tự hành động và tự chịu trách nhiệm về cuộc sống của bản thân mà không phụ thuộc, dựa dẫm vào người khác. Người có tính tự lập luôn chủ động trong học tập, công việc và cuộc sống. Họ biết tự giải quyết khó khăn, tự đứng dậy sau thất bại và không ngừng cố gắng để hoàn thiện bản thân.

Sự tự lập có ý nghĩa rất lớn đối với tuổi trẻ. Trước hết, tự lập giúp con người trưởng thành hơn trong suy nghĩ và hành động. Khi tự mình đối mặt với khó khăn, ta sẽ học được cách giải quyết vấn đề, biết chịu trách nhiệm với quyết định của mình. Những trải nghiệm ấy giúp tuổi trẻ trở nên mạnh mẽ, bản lĩnh và tự tin hơn. Bên cạnh đó, tự lập còn giúp con người khám phá năng lực của bản thân. Chỉ khi dám bước ra khỏi vùng an toàn, ta mới nhận ra khả năng và giá trị thật sự của mình. Tự lập cũng là điều kiện để mỗi người đạt được thành công trong tương lai, bởi không ai có thể mãi sống dựa vào cha mẹ hay người khác.

Trong thực tế, nhiều bạn trẻ ngày nay đã sớm rèn luyện tính tự lập. Có những học sinh tự giác học tập, biết phụ giúp gia đình, tự định hướng tương lai cho mình. Nhiều sinh viên vừa học vừa làm để trang trải cuộc sống và tích lũy kinh nghiệm. Chính sự chủ động ấy đã giúp họ trưởng thành và dễ dàng thích nghi với cuộc sống hiện đại. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn không ít bạn trẻ sống dựa dẫm, ỷ lại vào gia đình. Có người thiếu kĩ năng sống cơ bản, gặp khó khăn nhỏ đã chán nản hoặc bỏ cuộc. Điều đó khiến họ dễ thất bại và khó thích nghi khi bước vào đời.

Để rèn luyện tính tự lập, mỗi người trẻ cần bắt đầu từ những việc nhỏ nhất như tự giác học tập, biết quản lí thời gian và tự chịu trách nhiệm với hành động của mình. Tuổi trẻ cũng cần mạnh dạn đối mặt với khó khăn thay vì né tránh hay phụ thuộc vào người khác. Gia đình và nhà trường nên tạo điều kiện để con cái được trải nghiệm, được tự quyết định và học cách chịu trách nhiệm thay vì bao bọc quá mức.

Tự lập không có nghĩa là sống tách biệt hay từ chối sự giúp đỡ của mọi người, mà là biết chủ động làm chủ cuộc sống của mình. Tuổi trẻ chỉ thực sự trưởng thành khi biết tự bước đi bằng đôi chân của chính mình. Vì vậy, mỗi người hãy rèn luyện tính tự lập ngay từ hôm nay để có đủ bản lĩnh vượt qua thử thách và vững vàng trên con đường tương lai.


Câu 1.
Nhân vật trữ tình trong bài thơ là “ta” – người ở lại tiễn đưa người ra đi.


Câu 2.

  • Không gian: cuộc chia tay diễn ra trên một con đường nhỏ, trong khung cảnh chiều hôm và buổi sáng trước lúc ra đi.
  • Thời gian: vào lúc người li khách chuẩn bị lên đường, từ chiều hôm trước đến sáng hôm sau.


Câu 3.
Hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường trong hai câu thơ là:

  • “Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?”

→ “Hoàng hôn” vốn là cảnh vật bên ngoài nhưng lại xuất hiện “trong mắt”, tạo cách diễn đạt lạ hóa.

Tác dụng:

  • Gợi nỗi buồn sâu lắng, mênh mang của người đưa tiễn và người ra đi.
  • “Hoàng hôn” tượng trưng cho sự chia ly, mất mát, khiến đôi mắt như chất chứa cả nỗi buồn của buổi chiều ly biệt.
  • Làm câu thơ giàu cảm xúc, tăng chất lãng mạn và tính biểu tượng.


Câu 4.
Hình ảnh “tiếng sóng” mang ý nghĩa tượng trưng:

  • Tượng trưng cho những xao động, day dứt và nỗi buồn dâng trào trong lòng người đưa tiễn.
  • Dù “không đưa qua sông” nhưng lòng người vẫn cuộn sóng vì cuộc chia ly đầy lưu luyến.
  • “Tiếng sóng” còn gợi bước chuyển lớn của cuộc đời, khát vọng lên đường và tâm trạng bâng khuâng trước lý tưởng của người li khách.


Câu 5.
Thông điệp em thấy ý nghĩa nhất là: Con người cần sống có lí tưởng, dám ra đi để thực hiện khát vọng lớn của bản thân.

Trong bài thơ, người li khách chấp nhận rời xa gia đình, người thân để theo đuổi “chí nhớn”. Dù cuộc chia tay đầy buồn bã và lưu luyến, nhân vật vẫn quyết tâm lên đường. Điều đó cho thấy trong cuộc sống, mỗi người cần có ước mơ, hoài bão và lòng dũng cảm để theo đuổi mục tiêu của mình. Đồng thời, bài thơ cũng nhắc nhở chúng ta phải biết trân trọng tình cảm gia đình và những người luôn yêu thương, dõi theo mình.


Câu 1 (khoảng 200 chữ)

Văn bản của Nguyễn Ngọc Tư đã phản ánh sâu sắc thực trạng đáng buồn trong xã hội hiện đại: sự vô cảm và thói quen lan truyền thông tin thiếu kiểm chứng của con người. Qua những dẫn chứng như “bắp luộc có pin đèn”, “chè bưởi có thuốc rầy”, tác giả cho thấy chỉ một tin đồn vô căn cứ cũng có thể đẩy những người lao động nghèo vào cảnh khốn khó. Đặc biệt, hình ảnh “năm giây sau cả nước biết tin” đã nhấn mạnh tốc độ lan truyền chóng mặt của mạng xã hội cùng sự thiếu trách nhiệm của nhiều người khi sử dụng nó. Không chỉ dừng lại ở đó, tác giả còn phê phán thái độ thờ ơ của con người trước nỗi đau đồng loại. Trong một vụ cướp giữa ban ngày, người ta chỉ chú ý đến “giấy bạc bay” mà quên mất nạn nhân đang gặp nguy hiểm. Qua giọng văn nhẹ nhàng nhưng đầy xót xa, Nguyễn Ngọc Tư gửi gắm thông điệp rằng con người cần sống nhân ái, biết yêu thương, đồng cảm và cẩn trọng trong lời nói cũng như hành động. Chỉ khi biết quan tâm đến nhau, xã hội mới trở nên tốt đẹp và giàu tình người hơn.


Câu 2 (khoảng 600 chữ)

Trong cuộc sống hiện đại, bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, một vấn đề đáng lo ngại đang ngày càng phổ biến chính là sự thờ ơ, vô cảm của con người. Đây không chỉ là biểu hiện của sự suy giảm tình người mà còn là hồi chuông cảnh báo về đạo đức xã hội hiện nay.

Thờ ơ, vô cảm là thái độ lạnh nhạt, dửng dưng trước những con người hay sự việc xảy ra xung quanh. Đó là khi con người chỉ biết sống cho bản thân, không quan tâm đến cảm xúc, khó khăn hay nỗi đau của người khác. Trong xã hội hiện đại, ta không khó để bắt gặp những hình ảnh đau lòng: người bị tai nạn giữa đường nhưng nhiều người chỉ đứng nhìn hoặc quay video đăng mạng xã hội; những hoàn cảnh khó khăn bị đem ra chế giễu thay vì giúp đỡ; hay nhiều người vô tư tung tin sai sự thật mà không nghĩ đến hậu quả đối với người khác.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự vô cảm ấy. Trước hết, nhịp sống hiện đại quá vội vã khiến con người chỉ tập trung vào lợi ích cá nhân mà quên đi sự quan tâm, sẻ chia với cộng đồng. Bên cạnh đó, sự phát triển của mạng xã hội khiến nhiều người sống trong thế giới ảo, thích thể hiện bản thân nhưng lại thiếu sự đồng cảm thật sự. Một số người còn sợ liên lụy, sợ phiền phức nên chọn cách im lặng trước cái xấu, cái ác. Ngoài ra, sự giáo dục về đạo đức và lòng nhân ái ở một bộ phận gia đình, nhà trường vẫn chưa được chú trọng đúng mức.

Sự vô cảm gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Nó làm cho các mối quan hệ giữa con người với con người trở nên xa cách, lạnh lùng. Khi ai cũng chỉ biết đến bản thân mình, xã hội sẽ mất dần tình yêu thương và sự gắn kết. Đặc biệt, sự thờ ơ trước cái xấu còn tạo điều kiện cho những hành vi tiêu cực ngày càng gia tăng. Một xã hội mà con người không biết quan tâm, giúp đỡ nhau sẽ trở nên thiếu nhân văn và đáng sợ.

Tuy nhiên, trong cuộc sống vẫn còn rất nhiều người giàu lòng yêu thương và sẵn sàng giúp đỡ người khác. Đó là những bác sĩ tận tụy cứu chữa bệnh nhân, những tình nguyện viên giúp đỡ đồng bào vùng thiên tai, hay những con người âm thầm làm việc tốt mỗi ngày. Chính họ đã góp phần lan tỏa tình yêu thương và khiến cuộc sống trở nên ấm áp hơn.

Để khắc phục sự vô cảm, mỗi người cần học cách sống chậm lại để lắng nghe và quan tâm đến những người xung quanh. Nhà trường và gia đình cần giáo dục con cái về lòng nhân ái, tinh thần trách nhiệm và sự sẻ chia. Đồng thời, mỗi cá nhân phải biết sử dụng mạng xã hội một cách văn minh, không lan truyền những thông tin tiêu cực hay vô căn cứ. Quan trọng hơn cả, chúng ta cần dũng cảm lên tiếng trước cái xấu và sẵn sàng giúp đỡ người khác khi có thể.

Con người chỉ thực sự hạnh phúc khi biết yêu thương và được yêu thương. Vì vậy, đừng để sự thờ ơ, vô cảm làm mất đi những giá trị tốt đẹp của cuộc sống. Hãy mở lòng, biết đồng cảm và sẻ chia để xã hội ngày càng văn minh, nhân ái hơn.


Câu 1.
Thể loại của văn bản: Tản văn / nghị luận xã hội.


Câu 2.
Đề tài của văn bản:

  • Thực trạng đạo đức, cách ứng xử của con người trong xã hội hiện nay.
  • Sự vô cảm, thiếu kiểm chứng thông tin và tác hại của mạng xã hội đối với con người.


Câu 3.
Tác dụng của phép liệt kê trong đoạn trích:

  • Liệt kê hàng loạt sự việc như: “bắp luộc có pin đèn”, “hủ tiếu có chuột cống”, “chè bưởi có thuốc rầy”… giúp làm nổi bật tình trạng tin đồn thất thiệt lan truyền tràn lan trong xã hội.
  • Nhấn mạnh hậu quả nặng nề của việc tung tin thiếu kiểm chứng đối với những người lao động nghèo.
  • Thể hiện sự lo lắng, xót xa của tác giả trước sự vô tâm và cách hành xử thiếu trách nhiệm của con người.


Câu 4.
Hai câu văn gợi cho em suy nghĩ về thực trạng đạo đức của con người Việt Nam hiện nay:

  • Một bộ phận con người đang trở nên vô cảm, thờ ơ trước nỗi đau của người khác.
  • Nhiều người chỉ quan tâm đến sự việc bên ngoài, thích hiếu kì hơn là giúp đỡ nạn nhân.
  • Điều đó phản ánh sự xuống cấp về đạo đức và tình người trong xã hội hiện đại.
  • Vì vậy, mỗi người cần sống nhân ái, biết quan tâm, sẻ chia và có trách nhiệm hơn với cộng đồng.


Câu 5.
Bài học rút ra từ văn bản:

  • Không nên tin hay lan truyền thông tin chưa được kiểm chứng.
  • Cần biết yêu thương, đồng cảm với người khác.
  • Sử dụng mạng xã hội có trách nhiệm.
  • Giữ gìn đạo đức, lối sống nhân văn và thái độ ứng xử văn minh trong xã hội.


Câu 1:
Văn bản sử dụng ngôi kể thứ ba.


Câu 2:

  • Quê hương của Lê gắn với sông Hồng.
  • Quê hương của Sơn gắn với sông Lam.


Câu 3:
Biện pháp tu từ so sánh:
“Đại đội pháo của họ như một gốc cây đa lớn…”

Tác dụng:

  • Làm hình ảnh đại đội pháo trở nên cụ thể, sinh động.
  • Gợi sự đoàn kết, gắn bó của những người lính như các nhánh cây chung một gốc.
  • Thể hiện sức mạnh vững chắc và tình đồng đội sâu nặng.


Câu 4:
Chi tiết “Họ chia nhau tấm giát nằm, vài tấm áo sặc mùi thuốc đạn và chia nhau bầu trời Tổ quốc trên đầu” có vai trò:

  • Thể hiện tình đồng chí, đồng đội gắn bó, sẻ chia gian khổ của người lính.
  • Làm nổi bật tinh thần yêu nước và lí tưởng chiến đấu cao đẹp.
  • Góp phần thể hiện vẻ đẹp của người lính trong chiến tranh.


Câu 5:
Hai ngữ liệu có điểm tương đồng:

  • Đều thể hiện tình cảm gắn bó sâu nặng của con người với những vùng đất đã đi qua.
  • Khi rời xa, những nơi ấy trở thành kỉ niệm, đi vào tâm hồn con người.


Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá hình ảnh “giầu” và “cau” trong khổ thơ cuối của bài Tương tư.


Nhà em có một giàn giầu,

Nhà anh có một hàng cau liên phòng.

Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?


Trong khổ thơ cuối của bài Tương tư, hình ảnh “giầu” và “cau” mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Giầu và cau là hình ảnh quen thuộc trong đời sống dân gian Việt Nam, gắn liền với tình yêu, hôn nhân và sự gắn bó thủy chung. Nguyễn Bính đã mượn cặp hình ảnh này để ẩn dụ cho đôi trai gái đang yêu, một bên là “cau thôn Đoài”, một bên là “giầu thôn Đông”. Câu hỏi “Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?” vừa hóm hỉnh, vừa tha thiết, thể hiện nỗi tương tư cháy bỏng và khát vọng được sum vầy của chàng trai. Nghệ thuật nhân hoá và ẩn dụ giúp cảnh vật mang tâm trạng con người, khiến tình yêu trở nên gần gũi, mộc mạc mà vẫn sâu lắng. Qua đó, Nguyễn Bính không chỉ khắc hoạ vẻ đẹp của tình yêu quê mùa chân thật, mà còn gửi gắm tâm hồn dân dã, đậm chất ca dao trong thơ ca Việt Nam.





Câu 2 (4,0 điểm):



Viết bài văn (khoảng 600 chữ) bày tỏ quan điểm về ý kiến: “Hành tinh của chúng ta là nơi duy nhất mà chúng ta có thể sống, chúng ta cần bảo vệ nó.” (Leonardo DiCaprio)


Trái Đất là ngôi nhà chung của toàn nhân loại – nơi duy nhất trong vũ trụ bao la mà con người có thể sinh tồn. Chính vì thế, như diễn viên và nhà hoạt động môi trường Leonardo DiCaprio từng nói: “Hành tinh của chúng ta là nơi duy nhất mà chúng ta có thể sống, chúng ta cần bảo vệ nó.” Câu nói ấy nhắc nhở mỗi người về trách nhiệm cấp thiết trong việc gìn giữ và bảo vệ môi trường sống.


Hiện nay, Trái Đất đang đối mặt với nhiều vấn đề nghiêm trọng: khí hậu biến đổi, thiên tai, cháy rừng, ô nhiễm không khí, nước và đất, băng tan và tuyệt chủng sinh vật. Tất cả đều là hậu quả của sự khai thác quá mức và thờ ơ của con người. Nếu không hành động kịp thời, hành tinh này sẽ không còn là nơi an toàn cho sự sống. Vì vậy, bảo vệ Trái Đất không chỉ là một khẩu hiệu, mà là nghĩa vụ và lẽ sống của mỗi người.


Bảo vệ môi trường bắt đầu từ những việc nhỏ: trồng cây xanh, hạn chế rác thải nhựa, tiết kiệm điện nước, sử dụng năng lượng tái tạo, giữ gìn không gian sống sạch đẹp. Các tổ chức, chính phủ cần có chính sách xanh bền vững, còn mỗi cá nhân cần sống có ý thức, vì tương lai chung của nhân loại. Nhiều tấm gương trẻ đã hành động thiết thực – như Greta Thunberg, cô gái Thụy Điển dũng cảm kêu gọi toàn cầu chống biến đổi khí hậu – là minh chứng cho sức mạnh của ý thức cá nhân.


Tình yêu đối với Trái Đất không chỉ thể hiện qua lời nói, mà qua hành động bảo vệ từng mảnh rừng, dòng sông, và bầu không khí ta hít thở mỗi ngày. Bởi nếu hành tinh này bị hủy hoại, con người sẽ không còn nơi nào để trở về.


Tóm lại, thông điệp của Leonardo DiCaprio là lời cảnh tỉnh mạnh mẽ: Trái Đất là duy nhất, và sự sống của chúng ta phụ thuộc vào cách chúng ta đối xử với nó. Hãy bảo vệ hành tinh này như bảo vệ chính cuộc đời mình – vì đó là trách nhiệm và cũng là niềm tự hào của mỗi con người.


Câu 1.

→ Thể thơ: Thơ lục bát (câu 6 – câu 8 tiếng luân phiên, có vần và nhịp đặc trưng dân ca).




Câu 2.

→ Cụm từ “chín nhớ mười mong” là cách nói cường điệu, quen thuộc trong ca dao dân gian, diễn tả nỗi nhớ da diết, trọn vẹn, không lúc nào nguôi.

→ Qua đó cho thấy tình yêu mãnh liệt, chân thành và khắc khoải của chàng trai với người con gái mình thương.




Câu 3.

→ Biện pháp tu từ: Nhân hoá – “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông”.

→ Tác dụng: Làm cho không gian làng quê trở nên có hồn, như cũng biết yêu, biết nhớ. Hình ảnh hai thôn được nhân hoá vừa cụ thể hoá nỗi nhớ của con người, vừa gợi vẻ mộc mạc, chân chất mà sâu sắc của tình yêu quê mùa, dân dã.




Câu 4.

→ Hai câu thơ “Bao giờ bến mới gặp đò? / Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?” gợi cảm xúc khắc khoải, mong chờ và xa cách trong tình yêu.

→ Hình ảnh ẩn dụ “bến – đò”, “hoa – bướm” diễn tả khát vọng được gặp gỡ, được gắn bó của đôi lứa yêu nhau nhưng vẫn còn bị ngăn trở, xa cách.




Câu 5.

→ Qua tâm trạng tương tư tha thiết của chàng trai, em nhận ra tình yêu là một giá trị cao đẹp trong cuộc sống.

Tình yêu giúp con người biết rung động, biết nhớ thương và sống nhân hậu hơn. Dù có thể mang theo nỗi chờ mong, xa cách, nhưng chính tình yêu khiến cuộc đời thêm ý nghĩa, ấm áp và trọn vẹn hơn.


câu 1 Bài thơ “Những bóng người trên sân ga” của Nguyễn Bính là bức tranh chan chứa nỗi buồn chia ly, thấm đẫm tình người. Với giọng điệu trữ tình sâu lắng, nhà thơ đã tái hiện nhiều cảnh tiễn đưa ở sân ga – nơi chứng kiến biết bao cuộc chia biệt trong đời sống. Từ “hai cô bé”, “một người yêu”, “vợ chồng”, “bà già” đến “một người đi một mình”, mỗi cảnh đều gợi một nỗi buồn riêng, nhưng hòa chung trong âm hưởng thương cảm, nhân hậu. Nghệ thuật điệp cấu trúc “Có lần tôi thấy…” khiến bài thơ như một thước phim quay chậm, liên tiếp ghi lại những khoảnh khắc chia xa, làm nỗi buồn thêm sâu thẳm. Ngôn ngữ giản dị, hình ảnh đời thường mà giàu sức gợi, cùng nhịp thơ bảy chữ đều đặn, trầm buồn, đã thể hiện rõ phong cách thơ Nguyễn Bính – mộc mạc, chân thành và đậm chất dân gian. Qua đó, bài thơ không chỉ nói về nỗi chia ly, mà còn khơi dậy trong lòng người đọc sự đồng cảm, trân trọng tình cảm con người trong cuộc sống.

câu 2

Trong cuộc sống, ai cũng đứng trước nhiều ngã rẽ và phải chọn cho mình một con đường để đi. Nhà thơ Mỹ Robert Frost từng viết: “Trong rừng có nhiều lối đi, và tôi chọn lối đi chưa có dấu chân người.” Câu nói ấy gợi cho chúng ta suy nghĩ sâu sắc về sự chủ động lựa chọn lối đi riêng và tinh thần sáng tạo trong cuộc sống.


Chủ động lựa chọn lối đi riêng là dám sống thật với bản thân, dám theo đuổi con đường mình tin tưởng, không phụ thuộc hay bắt chước người khác. Cuộc sống vốn đa dạng và không có khuôn mẫu chung cho mọi người. Chỉ khi ta dám bước trên con đường của riêng mình, ta mới có cơ hội khám phá bản thân, phát huy năng lực và tạo nên giá trị riêng. Sáng tạo chính là ngọn lửa giúp con người không ngừng đổi mới, vượt qua giới hạn cũ để mang đến những điều có ích cho xã hội.


Thực tế đã chứng minh, những người thành công nhất thường là những người dám khác biệt. Steve Jobs – người sáng lập Apple – đã thay đổi cả thế giới công nghệ nhờ tư duy sáng tạo và không đi theo lối mòn. Ở Việt Nam, cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng đi con đường âm nhạc riêng, để lại những tác phẩm độc đáo, không lẫn vào ai. Họ đều là minh chứng cho sức mạnh của sự chủ động và sáng tạo.


Tuy nhiên, chọn lối đi riêng không có nghĩa là hành động mù quáng hay chống đối xã hội. Mỗi lựa chọn cần dựa trên hiểu biết, đam mê và trách nhiệm. Nếu chỉ chạy theo sự khác biệt mà thiếu định hướng, con người dễ lạc lối và thất bại. Vì thế, sáng tạo phải đi cùng bản lĩnh, kiên trì và lòng tin vào giá trị mình theo đuổi.


Trong thời đại hôm nay – khi thế giới thay đổi từng ngày – người trẻ càng cần có tinh thần chủ động và sáng tạo. Dám nghĩ, dám làm, dám khác biệt sẽ giúp ta khẳng định bản thân và đóng góp cho cộng đồng.