Vừ Mí Lùng

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Vừ Mí Lùng
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Cơ chế điều hòa kích thước và mật độ quần thể trong tự nhiên Trong tự nhiên, quần thể sinh vật có xu hướng tự điều chỉnh mật độ quanh mức cân bằng (phù hợp với khả năng cung cấp nguồn sống của môi trường) thông qua hai cơ chế chính: Khi mật độ cá thể quá cao: Nguồn thức ăn, nơi ở trở nên khan hiếm; ô nhiễm môi trường tăng. Điều này dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt, làm tăng tỉ lệ tử vong, giảm tỉ lệ sinh sản, đồng thời thúc đẩy sự phát tán (di cư) của các cá thể ra khỏi quần thể. Kết quả là mật độ cá thể giảm xuống. Khi mật độ cá thể quá thấp: Nguồn sống dồi dào, sự cạnh tranh yếu đi. Điều kiện thuận lợi thúc đẩy tỉ lệ sinh sản tăng, tỉ lệ tử vong giảm và tăng cường sự nhập cư. Kết quả là kích thước và mật độ quần thể tăng lên.

Các khu sinh học trên Trái Đất được phân chia thành hai nhóm chính là khu sinh học trên cạn và khu sinh học dưới nước.

Dựa trên đặc điểm sinh vật và môi trường, các khu sinh học (biome) trên Trái Đất được phân chia thành hai nhóm chính là: khu sinh học trên cạn và khu sinh học dưới nước. Dưới đây là tên và đặc điểm của một số khu sinh học tiêu biểu thuộc hai nhóm này: 1. Khu sinh học trên cạn Các khu sinh học này được phân chia chủ yếu dựa trên đặc điểm khí hậu của từng vùng địa lý. Đồng rêu đới lạnh (Tundra): Môi trường: Khí hậu cực kỳ lạnh giá, đất bị đóng băng quanh năm, mùa hè rất ngắn. Sinh vật: Thực vật chủ yếu là rêu, địa y, cỏ lùn và cây bụi thấp; động vật có gấu trắng, tuần lộc, chim di cư.