Nguyễn Gia Bảo
Giới thiệu về bản thân
Trong cuộc sống hiện đại, nhiều người đang phải đối mặt với một thói quen xấu là trì hoãn. Có ý kiến cho rằng: “Thói quen trì hoãn đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống và tương lai của con người”. Theo em, đây là một nhận định hoàn toàn đúng và đáng để mỗi chúng ta suy ngẫm. Trì hoãn là việc chần chừ, không làm ngay những việc cần thiết mà thường để lại sau. Ban đầu, nhiều người nghĩ rằng trì hoãn không gây hại gì lớn, nhưng thực tế lại hoàn toàn ngược lại. Khi công việc bị dồn lại, chúng ta sẽ rơi vào trạng thái căng thẳng, áp lực vì phải hoàn thành trong thời gian ngắn. Điều này không chỉ làm giảm chất lượng công việc mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần. Không chỉ vậy, trì hoãn còn khiến con người bỏ lỡ nhiều cơ hội trong cuộc sống. Khi không chủ động hành động, ta dễ mất đi những cơ hội học tập, phát triển bản thân hay đạt được mục tiêu. Ví dụ, một học sinh thường xuyên trì hoãn việc học sẽ không nắm vững kiến thức, dẫn đến kết quả kém. Về lâu dài, điều này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai, như việc thi cử, chọn nghề hay xây dựng sự nghiệp. Nguyên nhân của thói quen trì hoãn có thể đến từ sự lười biếng, thiếu kỉ luật hoặc sợ thất bại. Nhiều người ngại bắt đầu vì lo rằng mình sẽ làm không tốt, nên chọn cách trì hoãn để “trốn tránh”. Tuy nhiên, càng trì hoãn thì nỗi lo càng lớn, khiến mọi việc trở nên khó khăn hơn. Để khắc phục thói quen này, mỗi người cần rèn luyện tính kỉ luật và quản lí thời gian hợp lí. Chúng ta nên lập kế hoạch cụ thể, chia nhỏ công việc và bắt đầu từ những việc đơn giản. Ngoài ra, cần tạo động lực cho bản thân và tránh xa những yếu tố gây xao nhãng như điện thoại, mạng xã hội. Khi hình thành được thói quen làm việc đúng giờ, chúng ta sẽ cảm thấy tự tin và hiệu quả hơn. Tóm lại, trì hoãn là một thói quen xấu có thể gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với cuộc sống và tương lai của con người. Vì vậy, mỗi người cần nhận thức rõ tác hại của nó và chủ động thay đổi để trở nên tốt hơn.
Câu 1: Bàn về tác hại của việc phụ thuộc vào công nghệ. Câu 2: Công nghệ khiến con người phụ thuộc và ảnh hưởng tiêu cực. Câu 3: a. Phép thế (“thời gian đó”). b. Phép lặp. Câu 4: Giúp làm rõ vấn đề, tăng tính thuyết phục. Câu 5: Trình bày logic, có dẫn chứng nên dễ hiểu. Câu 6: Cần dùng công nghệ hợp lí, không lạm dụng.
Câu 1: Hai vợ chồng người thầy bói thiếu hiểu biết nhưng thích phán đoán, chỉ nhìn nhận một phía nên kết luận sai. Qua đó phê phán cách nhìn phiến diện và nhắc nhở cần quan sát, lắng nghe trước khi nhận định. Câu 2: Mạng xã hội giúp kết nối nhưng nếu lạm dụng sẽ khiến con người ít giao tiếp trực tiếp, dễ cô đơn. Tuy nhiên, nếu dùng hợp lí, nó vẫn mang lại nhiều lợi ích. Vì vậy cần cân bằng giữa đời thực và mạng xã hội.
Câu 1: Thời gian không xác định, mang tính chung chung. Câu 2: Đều là con người, có suy nghĩ và hành động riêng. Câu 3: Hai nhân vật xảy ra mâu thuẫn/hiểu lầm rồi rút ra bài học. Câu 4: Đề tài: Bài học về cách nhìn nhận sự việc. Căn cứ: Qua tình huống và ý nghĩa truyện. Câu 5: Em đồng ý. Vì mỗi người có góc nhìn khác nhau, cần lắng nghe để hiểu đúng. Trong học tập, làm việc nhóm nếu biết lắng nghe sẽ đạt kết quả tốt hơn. Ví dụ khi tranh luận, nhờ lắng nghe mà tìm được cách giải đúng. Vì vậy cần tôn trọng người khác.
Câu 1: Nói về vai trò của mạng xã hội trong chia sẻ thông tin và hỗ trợ. Câu 2: Có dẫn chứng, ngôn ngữ rõ ràng → văn bản thuyết minh. Câu 3: a. Phép lặp từ “chia sẻ thông tin”. b. “Mạng xã hội” là nền tảng trực tuyến giúp kết nối, chia sẻ thông tin. Câu 4: Giúp thông tin rõ ràng, dễ hiểu, tăng thuyết phục. Câu 5: Triển khai hợp lí, có ví dụ nên sinh động, dễ hiểu. Câu 6: Dùng AI để hỗ trợ học tập, không lạm dụng, cần tự suy nghĩ.
Câu 1: Nói về vai trò của mạng xã hội trong chia sẻ thông tin và hỗ trợ. Câu 2: Có dẫn chứng, ngôn ngữ rõ ràng → văn bản thuyết minh. Câu 3: a. Phép lặp từ “chia sẻ thông tin”. b. “Mạng xã hội” là nền tảng trực tuyến giúp kết nối, chia sẻ thông tin. Câu 4: Giúp thông tin rõ ràng, dễ hiểu, tăng thuyết phục. Câu 5: Triển khai hợp lí, có ví dụ nên sinh động, dễ hiểu. Câu 6: Dùng AI để hỗ trợ học tập, không lạm dụng, cần tự suy nghĩ.
Trong kỷ nguyên số hiện nay, giáo dục không còn bó hẹp trong bốn bức tường lớp học. Tuy nhiên, vẫn tồn tại quan điểm cho rằng: "Với học sinh, kĩ năng sống không quan trọng như tri thức". Cá nhân em hoàn toàn không đồng tình với ý kiến này. Theo em, tri thức và kĩ năng sống là hai cánh của một con chim; thiếu một bên, chúng ta không thể bay cao và xa được. Trước hết, ta cần hiểu rõ hai khái niệm này. Tri thức là hệ thống những kiến thức về tự nhiên, xã hội được tích lũy qua sách vở và các cấp học. Trong khi đó, kĩ năng sống là khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử và thích nghi với môi trường xung quanh. Nhiều người lầm tưởng rằng chỉ cần học giỏi, có bảng điểm đẹp là đủ để đảm bảo một tương lai tươi sáng. Nhưng thực tế đã chứng minh, tri thức chỉ là "tấm vé thông hành", còn kĩ năng sống mới là "người dẫn đường" giúp chúng ta đi đúng hướng. Một học sinh có thể giải những bài toán tích phân phức tạp hay thuộc lòng các sự kiện lịch sử, nhưng nếu không có kĩ năng giao tiếp, họ sẽ gặp khó khăn khi làm việc nhóm. Nếu thiếu kĩ năng giải quyết vấn đề, họ sẽ dễ dàng gục ngã trước những áp lực đầu đời. Ngược lại, kĩ năng sống giúp chúng ta biết cách tự bảo vệ mình trước những cám dỗ, biết cách lắng nghe và thấu hiểu người khác. Đó là những giá trị mà không một cuốn sách giáo khoa nào có thể dạy hết được. Hơn nữa, nếu quá chú trọng tri thức mà xem nhẹ kĩ năng, chúng ta dễ trở thành những "máy học" vô hồn. Thực tế có không ít bạn học sinh đạt giải cao trong các kỳ thi nhưng lại lúng túng khi phải tự chăm sóc bản thân hoặc xử lý một tình huống nguy cấp ngoài đường phố. Điều này cho thấy tri thức sẽ trở nên vô nghĩa nếu không có kĩ năng để vận dụng nó vào thực tiễn cuộc sống. Tất nhiên, nói kĩ năng sống quan trọng không có nghĩa là chúng ta được phép lơ là việc học tập tri thức. Tri thức là nền tảng để hình thành tư duy. Nhưng thay vì đặt chúng lên bàn cân để so sánh bên nào "nặng" hơn, chúng ta nên nhìn nhận chúng như một mối quan hệ tương hỗ. Học sinh cần tri thức để hiểu biết thế giới, và cần kĩ năng để sống sót và tỏa sáng trong thế giới đó. Quan điểm xem nhẹ kĩ năng sống là một cái nhìn phiến diện và lỗi thời. Để trở thành những công dân toàn cầu trong tương lai, mỗi học sinh chúng ta cần nỗ lực trau dồi cả "chữ" lẫn "nghĩa", cả kiến thức hàn lâm lẫn kĩ năng thực tế. Đừng để bản thân trở thành những "tiến sĩ giấy", hãy là người làm chủ
Câu 1: Văn bản bàn về: lòng kiên trì trong cuộc sống.
Câu 2: Câu nêu luận điểm đoạn (2): “Nếu chúng ta giữ vững lòng kiên trì, chúng ta có thể vượt qua mọi trở ngại và đạt được mục tiêu của mình.”
Câu 3a: Phép liên kết: phép nối (từ “Tuy nhiên”).
Câu 4: Tác dụng: giới thiệu vấn đề (lòng kiên trì) và thu hút người đọc.
Câu 5: Nhận xét: bằng chứng cụ thể, hợp lí, giúp tăng sức thuyết phục.
Câu 6 Trong học tập, em từng gặp khó khăn khi học môn Toán. Ban đầu em cảm thấy nản và muốn bỏ cuộc. Tuy nhiên, em đã cố gắng kiên trì luyện tập mỗi ngày. Nhờ vậy, em dần hiểu bài và làm được nhiều dạng bài hơn. Kết quả học tập của em cũng được cải thiện rõ rệt. Qua đó, em nhận ra rằng kiên trì sẽ giúp chúng ta vượt qua khó khăn. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện đức tính kiên trì để đạt được mục tiêu.
Dưới đây là một bài văn kể lại câu chuyện lịch sử gắn với thời kì chống phát xít Nhật, về nhân vật có thật Võ Nguyên Giáp: Kể lại một câu chuyện lịch sử trong thời kì chống phát xít Nhật Lịch sử dân tộc ta đã trải qua nhiều giai đoạn đau thương nhưng cũng đầy hào hùng. Trong thời kì phát xít Nhật chiếm đóng nước ta (1940–1945), nhân dân ta phải chịu cảnh đói khổ, áp bức nặng nề. Nhưng chính trong hoàn cảnh ấy, nhiều người yêu nước đã đứng lên lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập, trong đó có Võ Nguyên Giáp. Năm 1944, theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp đã thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân – tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam ngày nay. Lúc bấy giờ, lực lượng của ta còn rất nhỏ bé, chỉ có 34 chiến sĩ với vũ khí thô sơ. Thế nhưng, ai cũng mang trong mình ý chí quyết tâm đánh đuổi phát xít Nhật và thực dân Pháp để giành lại độc lập cho dân tộc. Ngay sau khi thành lập, đội quân nhỏ ấy đã lập nên chiến công đầu tiên ở Phay Khắt và Nà Ngần (Cao Bằng). Dưới sự chỉ huy mưu trí của Võ Nguyên Giáp, quân ta đã tấn công bất ngờ, giành thắng lợi nhanh gọn, thu được nhiều vũ khí. Những chiến thắng ấy tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa vô cùng to lớn: nó củng cố niềm tin của nhân dân vào cách mạng và chứng minh rằng ta hoàn toàn có thể đánh bại kẻ thù. Đặc biệt, trong nạn đói năm 1945 do phát xít Nhật gây ra, hàng triệu người dân vô tội đã chết đói. Trước tình cảnh ấy, lực lượng cách mạng đã tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân nổi dậy giành chính quyền. Tháng Tám năm 1945, khi thời cơ đến, dưới sự lãnh đạo của Đảng và các cán bộ cách mạng như Võ Nguyên Giáp, nhân dân cả nước đã vùng lên giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám, mở ra kỉ nguyên độc lập cho dân tộc. Câu chuyện về Võ Nguyên Giáp trong thời kì chống phát xít Nhật cho thấy tinh thần yêu nước, lòng dũng cảm và tài năng quân sự xuất sắc của ông. Từ một đội quân nhỏ bé ban đầu, ông đã góp phần xây dựng lực lượng vững mạnh, đặt nền móng cho những thắng lợi vẻ vang sau này.
Vấn đề lớn được đặt ra rrong văn bản là sự dung hòa giữa khoa học và đức tin kji con người khám phá vũ trụ, thể hiện qua việc thực hiện nghi thức tôn giáo trên sao hỏa