TẠ MINH CHÂU

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của TẠ MINH CHÂU
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1: Thể thơ: Lục bát

Câu 2: Cụm từ "chín nhớ mười mong"diễn tả nỗi nhớ da diết, triền miên, không lúc nào nguôi, nỗi nhớ thương sâu sắc và sự mong chờ khắc khoải của chàng trai đối với cô gái.

Câu 3:

Biện pháp tu từ: Hoán dụ (lấy địa danh "thôn Đoài", "thôn Đông" để chỉ người ở thôn đó - chàng trai và cô gái).

Tác dụng:- Làm cho câu thơ thêm kín đáo, đậm đà màu sắc dân gian; khéo léo bộc bạch tình cảm yêu thương, nỗi nhớ trộm thầm, thể hiện sự tương tư của chàng trai đối với cô gái một cách nhẹ nhàng nhưng sâu sắc.-

Cách nói mượn không gian làng quê để nói chuyện tình yêu làm cho cảm xúc trở nên duyên dáng, mang đậm màu sắc dân gian và tạo nên nét hồn hậu, chân quê đặc trưng trong thơ Nguyễn Bính.

- Giúp làm tặng sức gợi hình gợi cảm cho câu thơ

Câu 4: Hai dòng thơ:


“Bao giờ bến mới gặp đò?

Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?”

Gợi lên nỗi khắc khoải, chờ mong và cả sự lo âu trong tình yêu. Hình ảnh “bến – đò” và “hoa khuê các – bướm giang hồ” là những ẩn dụ giàu ý nghĩa, thể hiện khát vọng được gặp gỡ, sum họp. Đồng thời, nó còn cho thấy sự cách biệt, e ngại giữa hai người – một bên e ấp, khuê các; một bên phóng khoáng, giang hồ. Từ đó, ta cảm nhận được tâm trạng nhớ thương tha thiết nhưng cũng đầy băn khoăn của nhân vật trữ tình.

Câu 5:

Từ tâm trạng tương tư tha thiết trong bài thơ, em nhận ra rằng tình yêu có giá trị vô cùng lớn lao trong cuộc sống. Tình yêu khiến con người biết nhớ, biết mong, biết chờ đợi và sống sâu sắc hơn với cảm xúc của mình. Nó làm cho cuộc sống trở nên có ý nghĩa, có động lực và thi vị hơn. Tuy nhiên, tình yêu cũng cần sự chân thành, chủ động và thấu hiểu để không trở thành nỗi buồn xa cách. Vì thế, mỗi người nên trân trọng và gìn giữ tình cảm đẹp đẽ khi nó đến với mình.


Câu 1:

Trong khổ thơ cuối bài Tương tư, hình ảnh “giầu” và “cau” mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. “Giầu” gắn với “nhà em”, “cau” gắn với “nhà anh”, đều là những hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam, mộc mạc mà thân thương. Trong văn hóa dân gian, trầu – cau luôn đi đôi, tượng trưng cho tình nghĩa lứa đôi bền chặt. Vì thế, việc đặt “giầu” và “cau” ở hai không gian riêng biệt vừa gợi sự gắn bó tự nhiên, vừa nhấn mạnh khoảng cách chia lìa. Chúng như hai nửa vốn thuộc về nhau nhưng lại đang xa cách, cũng giống như đôi trai gái trong nỗi tương tư. Qua cách sử dụng hình ảnh giàu tính dân tộc ấy, nhà thơ đã diễn tả tinh tế khát vọng được sum họp, nên duyên của nhân vật trữ tình. “Giầu” và “cau” vì thế không chỉ là hình ảnh thực mà còn là biểu tượng của tình yêu chân quê, tha thiết mà e ấp.

Câu 2:

“Trái Đất không thuộc về chúng ta, chúng ta chỉ đang vay mượn nó từ thế hệ mai sau.” Lời nhắc nhở ấy khiến ta suy ngẫm sâu sắc khi Leonardo DiCaprio khẳng định: “Hành tinh của chúng ta là nơi duy nhất mà chúng ta có thể sống, chúng ta cần bảo vệ nó.” Ý kiến không chỉ là một thông điệp môi trường, mà còn là lời cảnh tỉnh về trách nhiệm sống của mỗi con người trước ngôi nhà chung duy nhất – Trái Đất.

Trước hết, cần hiểu rằng Trái Đất hiện nay là hành tinh duy nhất được xác nhận có sự sống. Dù khoa học không ngừng tìm kiếm những “hành tinh tương tự Trái Đất” trong vũ trụ, nhưng với điều kiện khí hậu, nguồn nước, bầu khí quyển và hệ sinh thái phong phú, hành tinh xanh vẫn là môi trường duy nhất đảm bảo cho con người tồn tại và phát triển. Vì vậy, bảo vệ Trái Đất không chỉ là bảo vệ thiên nhiên, mà là bảo vệ chính sự sống của loài người. Khi rừng bị tàn phá, không khí ô nhiễm, đại dương ngập rác thải nhựa, thì sức khỏe và tương lai của chúng ta cũng bị đe dọa.


Thực tế đã cho thấy hậu quả nghiêm trọng của việc con người khai thác và hủy hoại môi trường một cách thiếu kiểm soát. Biến đổi khí hậu khiến băng tan, mực nước biển dâng cao, thiên tai ngày càng cực đoan.Nhiệt độ toàn cầu tăng cao khiến băng ở hai cực tan chảy, mực nước biển dâng, đe dọa nhiều quốc gia ven biển. Những năm gần đây, thế giới liên tiếp chứng kiến các thảm họa thiên nhiên nghiêm trọng: cháy rừng kéo dài ở nhiều nơi, nắng nóng kỷ lục, bão lũ bất thường. Ở Việt Nam, tình trạng xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long hay ô nhiễm không khí tại các thành phố lớn cũng là hồi chuông cảnh báo đáng lo ngại. Những dẫn chứng ấy cho thấy môi trường đang bị tổn hại nghiêm trọng và con người chính là nguyên nhân chủ yếu.


Bảo vệ hành tinh vì thế mang ý nghĩa sống còn. Đó không phải là khẩu hiệu xa vời mà là hành động cụ thể: giảm sử dụng nhựa dùng một lần, tiết kiệm điện nước, trồng cây xanh, phân loại rác, ưu tiên năng lượng tái tạo. Ở tầm vĩ mô, các quốc gia cần hợp tác để thực hiện những cam kết về giảm phát thải khí nhà kính, phát triển bền vững. Ở tầm cá nhân, mỗi người trẻ có thể bắt đầu từ những việc nhỏ nhưng bền bỉ. Chính sự thay đổi trong nhận thức và hành vi của từng cá nhân sẽ tạo nên sức mạnh cộng đồng to lớn.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng khoa học hiện đại có thể giúp con người tìm ra nơi ở mới trong tương lai, nên việc “quá lo lắng” cho Trái Đất là không cần thiết. Quan điểm ấy thể hiện sự ảo tưởng và thiếu trách nhiệm. Dù công nghệ có phát triển đến đâu, việc di cư toàn bộ nhân loại sang một hành tinh khác gần như bất khả thi trong tương lai gần. Hơn nữa, không một hành tinh nào có thể thay thế hoàn toàn hệ sinh thái phức tạp và hoàn hảo mà Trái Đất đã kiến tạo qua hàng tỷ năm. Thay vì mơ về một “hành tinh dự phòng”, con người cần trân trọng và giữ gìn nơi ở duy nhất mình đang có.


Từ nhận thức ấy, mỗi chúng ta cần sống có trách nhiệm hơn với môi trường. Bảo vệ hành tinh không chỉ vì hôm nay mà còn vì ngày mai, vì quyền được sống trong lành của thế hệ sau. Khi ta biết yêu từng hàng cây, dòng sông, bầu không khí mình hít thở, ta cũng đang gìn giữ tương lai của chính mình.

Leonardo DiCaprio đã nói một điều giản dị nhưng vô cùng sâu sắc: Trái Đất là ngôi nhà duy nhất của chúng ta. Không có “ngôi nhà thứ hai” để quay về nếu nơi này bị hủy hoại. Vì vậy, bảo vệ hành tinh không chỉ là lựa chọn, mà là nghĩa vụ thiêng liêng của toàn nhân loại.

Ảnh hưởng của chế độ thực dân với các thuộc địa Đông Nam Á


- Ảnh hưởng tích cực: Sau hơn bốn thế kỉ thống trị, thực dân phương Tây đã tạo ra một số thay đổi ở khu vực Đông Nam Á như:


+ Gắn kết khu vực với thị trường thế giới;


+ Du nhập nền sản xuất công nghiệp, xây dựng một số cơ sở hạ tầng,…


+ Thúc đẩy phát triển một số yếu tố về văn hóa như chữ viết, tôn giáo, giáo dục....


- Ảnh hưởng tiêu cực: chế độ thực dân đã để lại hậu quả nặng nề đối với các quốc gia Đông Nam Á.


+ Về chính trị - xã hội: chính sách “chia để trị" của thực dân phương Tây là một trong những nguyên nhân dẫn tới xung đột sắc tộc, tôn giáo, vùng miền gay gắt ở các quốc gia Đông Nam Á, đồng thời gây ra nhiều tranh chấp biên giới, lãnh thổ giữa các quốc gia trong khu vực.


+ Về kinh tế: chế độ thực dân để lại một hệ thống cơ sở hạ tầng nghèo nàn, lạc hậu. Phần lớn các nước trong khu vực bị biến thành nơi cung cấp nguyên liệu và thị trường tiêu thụ hàng hóa của phương Tây.


+ Về văn hóa: thực dân phương Tây áp đặt nền văn hóa nô dịch, thi hành chính sách ngu dân và hạn chế hoạt động giáo dục đối với nhân dân các nước thuộc địa.


Liên hệ Việt Nam: Ở Việt Nam, hơn 80 năm cai trị của thực dân Pháp đã để lại những hậu quả nặng nề trên mọi lĩnh vực. Ví dụ như:


- Về chính trị:


+ Từ một quốc gia thống nhất, dưới sự thống trị của thực dân Pháp, Việt Nam bị chia thành 3 xứ với 3 chế độ khác nhau: Bắc Kì là xứ bảo hộ; Trung Kỳ là xứ nửa bảo hộ; Nam Kỳ là xứ thuộc địa. Tên nước Việt Nam bị xóa trên bản đồ chính trị thế giới.


+ Thực dân Pháp cũng lập ra nhiều xứ tự trị, làm phức tạp các mối quan hệ vùng miền, tôn giáo, tộc người.


- Về kinh tế:


+ Sự của du nhập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tuy đem lại một số chuyển biến tích cực, tuy nhiên, đó chỉ là sự chuyển biến mang tính cục bộ ở một số ngành nghề, một số địa phương.


+ Về cơ bản, kinh tế Việt Nam vẫn nghèo nàn, lạc hậu, phát triển thiếu cân đối và lệ thuộc nặng nề vào kinh tế Pháp;


- Về xã hội: hầu hết các giai cấp, tầng lớp nhân dân ở Việt Nam bị áp bức, bóc lột nặng nề, lâm vào cảnh nghèo khổ, bần cùng. Mâu thuẫn dân tộc giữa nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược bao trùm xã hội, làm bùng nổ nhiều cuộc đấu tranh yêu nước.

- Về văn hóa: đại bộ phận dân cư vẫn trong tình trạng nghèo đói, lạc hậu, trình độ dân trí thấp (hơn 90% dân số Việt Nam mù chữ); nhiều giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam bị xói mòn; trong xã hội tồn tại phổ biến nhiều hủ tục, tệ nạn xã hội, như: cờ bạc, mại dâm, hút thuốc phiện,…

Quá trình xâm lược Đông Nam Á hải đảo của thực dân phương Tây diễn ra từ đầu thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XX, bắt đầu bằng việc buôn bán, truyền giáo, sau đó chuyển sang dùng vũ lực chiếm đóng. Hà Lan, Anh, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã biến khu vực này thành thuộc địa, vơ vét tài nguyên và áp đặt chính sách "chia để trị".

Giai đoạn mở đầu (Thế kỷ XVI):

- Bồ Đào Nha: Năm 1511, chiếm Malacca (Malaysia ngày nay), đánh dấu bước chân đầu tiên của thực dân phương Tây tại Đông Nam Á.

- Tây Ban Nha: Đẩy mạnh xâm lược và đến cuối thế kỷ XVI đã cơ bản chiếm đóng Philippines.

Giai đoạn đẩy mạnh và hoàn thành (Thế kỷ XVII - XX):

- Hà Lan: Tập trung xâm lược Indonesia. Từ thế kỷ XVII, Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) sử dụng vũ lực và ngoại giao để thôn tính các vương quốc bản địa, biến Indonesia thành thuộc địa của mình.

- Anh: Mở rộng ảnh hưởng tại khu vực Mã Lai (Malaysia), kiểm soát các vùng trọng điểm như Penang, Singapore và Malacca, củng cố quyền lực tại Đông Nam Á hải đảo.

- Mỹ: Cuối thế kỷ XIX, Mỹ đánh bại Tây Ban Nha và thay thế quyền cai trị tại Philippines.

Câu 1:

Có ý kiến cho rằng thơ là tiếng nói chân thật nhất của trái tim khi cảm xúc dâng trào. Đọc Những giọt lệ, ta cảm nhận rõ điều đó qua tiếng lòng đau đớn và tuyệt vọng của một con người đang tan vỡ vì tình yêu.Ngay từ mở đầu, chuỗi câu hỏi dồn dập “bao giờ” cho thấy tâm trạng bế tắc, khát khao thoát khỏi đau khổ nhưng bất lực. Khi người yêu rời xa, nhân vật trữ tình cảm nhận sự mất mát như mất đi “một nửa hồn”, cách nói phóng đại nhưng chân thực về cảm giác tan vỡ nội tâm. Đặc biệt, hình ảnh “bông phượng nở trong màu huyết” là biểu tượng giàu sức gợi: sắc đỏ của hoa hòa vào sắc máu, biến vẻ đẹp thành nỗi đau, biến kỉ niệm thành vết thương. Khổ cuối là đỉnh điểm cảm xúc với những câu hỏi liên tiếp và không lời đáp, thể hiện trạng thái hoang mang, cô độc đến cùng cực. Ngôn ngữ thơ giàu tính tượng trưng, giọng điệu tha thiết mà bi thương đã khắc họa một tâm hồn yêu say đắm nhưng cũng đau đớn tột cùng. Qua đó, bài thơ cho thấy tình yêu trong thế giới thơ Hàn Mặc Tử luôn mãnh liệt, đẹp đẽ nhưng thường gắn với cảm thức chia lìa và tuyệt vọng.

Câu 2:

caau1: bptt: Biểu cảm, miêu tả và tự sự

Câu 2: Đề tài trong bài thơ là nỗi đau chia ly và bi kịch tình yêu của nv trữ tình khi mất người yêu, dẫn đến tuyệt vọng và cảm giác tan vỡ linh hồn.

Câu 3: Hình ảnh tượng trưng: Sao bông phượng nở trong màu huyết

Hình ảnh hoa phượng thường gắn với tuổi trẻ và tình yêu, nhưng ở đây lại " nở trong màu huyết", máu tạo cảm giác rực đỏ đau đớn. HÌnh anh tượng trưng cho tình yêu cháy bóng bị nhuốm màu bi thương,thể hiện nỗi đau của nhân vật trữ tình.

Câu 4:

Khổ cuối sử dụng nổi bật các biện pháp tu từ:

Câu hỏi tu từ: “Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?”, “Ai đem bỏ tôi dưới trời sâu?”

Ẩn dụ – tượng trưng: “bông phượng”, “giọt châu”

Phóng đại: cảm giác bị bỏ rơi giữa “trời sâu”

→ Tác dụng: - khắc họa cao trào cảm xúc tuyệt vọng, đau đớn và cô độc của cái tôi trữ tình.

- Diễn tả trạng thái hoang mang, mất phương hướng.Biểu hiện nỗi đau tình yêu và nước mắt

-Nhấn mạnh cô đơn tuyệt đối.

Câu 5: Cấu tứ bài thơ phát triển theo mạch cảm xúc tăng tiến:

Khổ 1: câu hỏi về cái chết và tình yêu → dự cảm đau đớn.

Khổ 2: sự thật chia ly → mất mát nửa linh hồn.

Khổ 3: rơi vào trạng thái hoang mang, tuyệt vọng.

→ Cấu tứ đi từ dự cảm → biến cố → khủng hoảng tinh thần, tạo cao trào cảm xúc mạnh.



Câu1: Những dấu hiệu cho thấy văn bản trên là vban thông tin:

- Văn bản có nhan đề rõ ràng, có dòng tóm tắt nội dung bên dưới

- Cung cấp thông tin về một sự kiện có thật.

-Có hình ảnh minh hoạ

- Ngôn ngữ khachs quan, đưa ra dẫn chứng cụ thể.

Câu 2: Văn banr viết về sự thành công của ca sĩ Đức Phúc tại Intervision 2025 và từ đó đề cập đến vẫn đề xây dựng thương hiệu mạng cho âm nhạc Viêth Nam bằng việc khai thác các giá trị văn hoá truyền thống để hội nhập quốc tế.

Câu 3: Phương tiện phi ngôn ngữ: Hình ảnh phần biểu diễn trên sân khấu Intervision 2025

Tác dungj: - Làm tăng tính trực quan, giúp người đọc hình dung rõ nét vẻ hoành tráng của buooir biểu diễn.

- Giúp văn bản thêm sinh động, thuyết phục, thu hút người đọc.

Câu 4: Mối quan hệ giữa nội dung văn bản với nhan đề:

Nhan đề khái quát nội dung: Nhan đề chỉ ra luaanj điểm chính. Tiềm năng hội nhập của V-pop nằm ở việc khai thác văn hoá dân tộc và sáng tạo.

Nội dung làm rõ nhan đề: văn bản chỉ ra chất liệu truyền thống giúp âm nhạc Việt Nam có bản sắc độc đáo, vượt qua K-pop, V-pop để chạm trái tim đến bạn bè quoocs tế.

Câu 5: Văn bản mang lại cho em những thông điệp bổ ích:- Hội nhập quốc tế phải bắt đầu từ bản sắc văn hoá dân tộc.

- Âm nhạc chinhs là công cụ ngoại giao mềm giúp quảng bá văn hoá Việt Nam

- Muốn thành công cần đầu tư bài bản, sáng tạo từ chất liệu truyền thoongs.

3 việc em có thể làm:

- Giới thiệu văn hoá Việt qua mạng xã hội

- Ưu tiên sử dụng, lòng ghép các yếu tố truyền thống trong biểu diễn, sáng tạo nghệ thuật

- Tìm hiểu, trân trọng aam nhạc truyền thống quê hương


Câu 1:

Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới, ông đã để lại cho nền văn học Viển Nam nhiều tác phẩm đồ sộ, có giá trị sâu sắc. Trong số đó, tác phẩm Truyện Kiều đã làm nên tên tuổi của ông. Ở đoạn trích trên, Nguyễn Du đã khắc hoạ Thuý Kiều với nhieeuf nét đẹp. Khi Thúc Sinh từ biệt để trở về, Kiều khoong hề trách móc hay đòi hỏi, trái lại nàng khuyên chàng “ thong dong”. Điều này cho thấy Kiều là một người phụ nữ khôn ngoan, thấu hiểu lễ giáo và thấu hiểu tình cảnh éo le của bản thân. “ Đôi ta trước nghĩa đèo bòng/ Đến nhà trước liệu nói sòng cho minh” thee hiện sự cương trực, không muốn giấu diếm và mối quan hệ giữa mình và Thúc Sinh của Kiều. Dù phải chịu sự chia ly nhưng Kiều vẫn đặt danh dự của bản thân và Thúc Sinh lên trước hết. Nỗi buồn chia cắt thể hiện ở câu hỏi tu từ: “ Vầng trăng ai xẻ làm đôi? Nửa in gối chiếc nửa soi dặm đường”. Câu thơ không chỉ diễn tả sự chia cắt về không gian mà còn là sự chia ly về mặt tâm hồn, ta thấy Thuý Kiều là người phụ nữ trongj tình nghĩa, giàu tình cảm. Thuý Kiều trong đoạn trích là hiện thân của vẻ đẹp cao quý, sẵn sàng chấp nhận thiệt thòi để ngườ khác được trọn vẹn, duf trong hoàn cảnh nào nàng vẫn luôn coi trọng phẩm hạnh, giữ gìn phẩm giá của bản thân. Đoạn trích đã thể hiện được tài năng của Nguyễn Du, ông đã biến Thuý Kiều trở thành biểu tượng của tình yêu chân thành và đức hi sinh cao quý.

Câu 2:

Trong dòng chảy không ngừng của xã hội hiện đạu, thế hệ trẻ chính là tương lai của đấy nước, là lực lượng nòng cốt quyết đinh số phân dân tộc. Muốn tiến tới thành công, mỗi người trẻ không thể buông thả hay cố định mà cần phải có lý tưởng đúng đắn - kim chỉ nan dẫn đươngf cho mọi hành động và khát vọng của mình.

Lý tưởng sống là mục tiêu con người hướng tới, gắn với trách nhiệm, niềm tin và cống hiến cho cộng đồng. Với thế hệ trẻ hôm nay đó có thể là khát vọng học tập, xây dựng xã hội đi lên, sống có ích cho gia đình, Tổ quốc… Lý tưởng sống giúp cho con người vượt qua nhiều khó khăn, thử thách. Lý tưởng sống giúp tuổi trẻ có hướng đi đúng đăn, tránh lạc lối trong vòng xoáy vật chất.Việc nuôi dưỡng lý tưởng là cách giúp bản thân sống tích cực, chủ động, biết vươn lên trước khó khăn. Người có lý tươnhr sống đẹp sẽ được mọi người xung quanh yêu mến và ngưỡng mộ. Trong thực tế có rất nhiều tấm gương trẻ sống đẹp, sống có lý tưởng. Chẳng hạn như ca sĩ Thái Thuỳ Linh nổi tiếng với chương trình mang âm nhạc tới bệnh viện để phục vụ văn nghệ và quyên góp những người gặp khó khăn. Có những bạn trẻ dấn thân vào khoa học, đổi mới phát triển, những tình nguyện viên góp sức nơi vungf sâu vùng xa, những chiến sĩ canh giữ nơi biển đảo… họ chính là tấm gương sáng cho lý tưởng sống cao đẹp.

Tuy nhiên, bên cạnh những người sống có lý tưởng vẫn còn một bộ phận giới trẻ sống thiếu mục tiêu, thờ ơ với xã hội, sa vào lối sống thực dụng. Những trường hợp đó cần đáng lên án, dè bỉu. Để có lý tưởng sống cao đẹp, thanh niên hôm nay cần rèn luyện, tích cực học tập, trau dồi đạo đức, kĩ năng cần thiết. Khi mỗi người trẻ đều có lý tưởng sống đúng đắn, đất nước sẽ có thêm những công dân tốt, góp phần xây dựng tương lai phồn thịnh và nhân ái.

Sống có lý tưởng là điều rất quan trọng đối với giới trẻ ngày nay. Hãy sống một tuổi trẻ thật đẹp, có lý tưởng để toả sáng và khẳng định bản thân mình.

Câu 1: Thể thơ lục bát

Câu 2: Cảnh chia tay giữa Thúc Sinh và Thuý Kiều

Câu 3: bptt phép đối: “ người về” >< “ kẻ đi”

Tác dụng:

- Tạo sự cân đối, hài hoà cho câu thơ

- Nhấn mạnh sự cô đơn, lẻ loi của cả Thuý Kiều và Thúc Sinh sau cuộc chia ly

- Làm tăng nỗi buồn và day dứt trong lòng người đọc

Câu 4: Cảm hứng chủ đạo là nỗi buồn, sự day dứt và cô đơn trong tình yêu.

Câu 5: Nhan đề: “ Thúc Sinh từ biệt Thuý Kiều”

Lý do: Thể hiện nội dung của đoạn trích là cảnh chia ly giữa Kiều và Thúc Sinh. Đoạn thơ tập chung miêu tả tâm trạng, cảm xúc trong cuộc chia ly nên nhan đề này rất phù hợp.