Lê Ngọc Bảo Trâm
Giới thiệu về bản thân
Câu 1. (2 điểm)
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn
– Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
– Thí sinh có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Ghi lại cảm nghĩ của em sau khi đọc xong bài thơ ở phần Đọc hiểu.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
– Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
+ Về nội dung: Bài thơ là lời tự răn của tác giả về việc chọn lựa môi trường sống sao cho phù hợp, tốt đẹp cho bản thân. Thời kì mà Nguyễn Trãi sống là một thời kì rối ren, xã hội suy vi về nhiều mặt, trong đó có đạo đức. Bản thân Nguyễn Trãi cũng phải trải qua biết bao thăng trầm, chứng kiến bao thói đời bạc bẽo trong đời. Từ những trải nghiệm sống của mình, ông viết bài thơ này vừa để tự răn chính mình, vừa để nhắn nhủ với thế hệ mai sau về tầm quan trọng của môi trường sống đối với sự hình thành, phát triển nhân cách con người.
+ Về nghệ thuật:
++ Mượn ý của nhiều câu thành ngữ, tục ngữ.
++ Hình ảnh thơ vừa bình dị, vừa hấp dẫn, giúp bạn đọc dễ hình dung được mối quan hệ giữa môi trường sống với sự hình thành, phát triển về mặt nhân cách của con người.
++ Sử dụng phép đối linh hoạt: Lân cận nhà giàu no bữa cám, – Bạn bè kẻ trộm phải đau đòn.; Chơi cùng đứa dại nên bầy dại, – Kết mấy người khôn học nết khôn.; Đen gần mực, đỏ gần son.
++ Ngôn ngữ mộc mạc, gần gũi, dễ hiểu.
+ Dựa trên phương diện nội dung và nghệ thuật HS bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ của bản thân về tư tưởng của Nguyễn Trãi, cũng như là nhận xét về phương diện nghệ thuật của bài thơ.
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau
– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 2. (4 điểm)
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài
Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Bàn luận về câu tục ngữ Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
– Xác định được các ý chính của bài viết.
– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
* Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận:
– Giải thích:
+ Mực: Sự tối tăm, mù mịt, tượng trưng cho những điều xấu xa.
+ Đèn: Tượng trưng cho ánh sáng, chân lí, lẽ phải, những điều đúng đắn.
=> Câu tục ngữ hàm ý về sự tác động của môi trường sống đến nhân cách con người.
– Bàn luận:
+ Môi trường sống tác động đến sự hình thành, phát triển nhân cách bằng những cách thức khác nhau:
++ Gia đình tác động đến nhân cách con người qua việc con cái được cha mẹ nuôi dưỡng, hình thành, bồi đắp những giá trị đạo đức, thói quen,…
++ Xã hội thông qua các mối quan hệ bạn bè, thầy trò,… tác động đến hành vi, suy nghĩ, làm biến đổi nhân cách.
++ Văn hóa cũng thông qua các phong tục tập quán địa phương mà định hình tư duy, hành động của cá nhân, góp phần nuôi dưỡng nhân cách.
+ Môi trường sống tác động đến nhân cách con người theo hai hướng tích cực và tiêu cực.
++ Tích cực:
+++ Góp phần hình thành những phẩm chất tốt. Mẹ của Mạnh Phu Tử đã phải chuyển nhà ba lần vì muốn chọn môi trường tốt, thuận lợi cho việc hình thành, phát triển nhân cách tốt cho con trai.
+++ Tạo điều kiện nảy sinh những mối quan hệ tốt, giúp chúng ta có cơ hội học hỏi nhau, hoàn thiện hơn về nhân cách.
++ Tiêu cực:
+++ Nếu tiếp xúc với người xấu, nhân cách sẽ bị ảnh hưởng, dẫn đến những hành vi thiếu chuẩn mực đạo đức xã hội.
+++ Một người có nhân cách không tốt sẽ không tạo được thiện cảm với mọi người, dần dà bị mọi người xa lánh.
– Phản đề: Hiện nay, nhiều bạn trẻ có nhân cách không tốt, một phần là do không có sự quan tâm sát sao của gia đình, nên lầm lạc trước những mù quáng của tuổi trẻ, một phần là thiếu sự định hướng từ nhà trường.
– Giải pháp:
+ Mỗi cá nhân cần có ý thức tự rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất, đạo đức; cần biết phân định đúng, sai để tránh sa vào những lầm lạc trong cuộc sống.
+ Gia đình cần tạo ra môi trường ấm áp, yêu thương, quan tâm, sẻ chia.
+ Trường học cần chú trọng hình thành, phát triển nhân cách cho học sinh hơn là chạy theo thành tích, điểm số.
* Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận.
d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau
– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
– Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: Lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.
đ. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Câu 1.
Thể thơ: Thất ngôn xen lục ngôn.
Câu 2.
HS chỉ ra được một thành ngữ, tục ngữ trong những thành ngữ, tục ngữ sau:
– Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài.
– Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng.
– Gần nhà giàu đau răng ăn cốm/ Gần kẻ trộm ốm lưng chịu đòn.
Câu 3.
– HS chỉ ra được một biện pháp tu từ trong dòng thơ cuối: Điệp từ gần, phép đối Đen – đỏ, mực - son.
– HS phân tích được tác dụng của một biện pháp tu từ kể trên:
+ Điệp từ: Nhấn mạnh sự tác động của môi trường đến con người.
+ Phép đối: Thể hiện rõ tính nhân quả, sự tác động của môi trường đến con người. Ở nơi xấu xa, tăm tối con người sẽ dần biến chất, xấu xa hơn; còn ở nơi êm ấm, hạnh phúc, tốt lành con người sẽ trở nên tốt đẹp hơn.
Câu 4.
– Đề tài: Môi trường sống.
– Chủ đề: Lời tự răn của tác giả về tầm quan trọng của việc lựa chọn môi trường sống thích hợp, tốt đẹp.
Câu 5.
– HS dựa vào nội dung của văn bản tự rút ra cho mình bài học và có lí giải ngắn gọn hợp lí.
– Một số bài học được rút ra từ văn bản:
+ Cần biết lựa chọn môi trường, hoàn cảnh sống tốt cho mình.
+ Cần biết chọn bạn để chơi, chọn người tốt để kết giao, học hỏi.
Các nhân tố kinh tế - xã hội có ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển và phân bố nông nghiệp:
- Dân cư và lao động (quy mô, cơ cấu, mật độ dân số,…): ảnh hưởng rất lớn đến thị trường tiêu thụ sản phẩm của ngành
Ví dụ: Ở Đồng bằng sông Cửu Long, lực lượng lao động nông nghiệp lớn, giàu kinh nghiệm canh tác lúa nước, giúp khu vực này trở thành vựa lúa lớn nhất Việt Nam.
- Khoa học - công nghệ: Tiến bộ khoa học - kĩ thuật trong nông nghiệp (cơ giới hóa, thủy lợi hóa, hóa hóc hóa, cách mạng xanh và công nghệ sinh học, ứng dụng cách mạng 4.0) tạo ra nhiều giống mới; tăng năng suất, chất lượng nông sản; sử dụng hiệu quả tài nguyên đất nước.
Ví dụ: Công nghệ tưới tiêu hiện đại và hệ thống nhà kính tại Nhật Bản giúp phát triển mạnh mẽ ngành trồng rau, hoa chất lượng cao.
- Cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật: Thúc đẩy sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp; tăng cường liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản.
Ví dụ: Các tuyến giao thông kết nối vùng sản xuất nông nghiệp lớn như Tây Nguyên với các cảng xuất khẩu (Cảng Quy Nhơn, Cảng TP.HCM) giúp tăng giá trị xuất khẩu cà phê.
- Chính sách phát triển nông nghiệp, vốn đầu tư và thị trường: Tác động đến phương hướng sản xuất, cơ cấu ngành, quy mô sản xuất; xác định các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp; thúc đẩy nông nghiệp sản xuất hàng hoá.
+ Chính sách phát triển kinh tế nói chung, phát triển nông nghiệp nói riêng có ảnh hưởng lớn tới sản xuất nông nghiệp.
+ Vốn đầu tư tác động đến quy mô sản xuất, thúc đẩy sản xuất hàng hoá,...
+ Thị trường tiêu thụ (trong nước, ngoài nước) tác động tới giá cả nông sản, đến việc điều tiết sản xuất và ảnh hưởng chuyên môn hóa.
Ví dụ: Chính sách thủy lợi hóa và đầu tư giống lúa chất lượng cao của Chính phủ Việt Nam giúp tăng năng suất lúa tại Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long.
a) Phân loại nguồn lực phát triển kinh tế
- Căn cứ vào nguồn gốc, có các nguồn lực phát triển kinh tế:
+ Vị trí địa lí: vị trí địa lí tự nhiên. vị trí địa lí kinh tế chính trị, giao thông.
+ Tự nhiên: đất, khí hậu, nước, biển, sinh vật, khoáng sản.
+ Kinh tế - xã hội: dân số và nguồn lao động, vốn, thị trường, khoa học - kĩ thuật và công nghệ, thương hiệu quốc gia, lịch sử - văn hoá, đường lối chính sách.
- Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ, có các loại nguồn lực phát triển kinh tế:
+ Nguồn lực trong nước: vị trí địa lí, tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động, nguồn vốn đầu tư, khoa học - công nghệ, lịch sử - văn hoá, hệ thống tài sản quốc gia, đường lối chính sách.
+ Nguồn lực nước ngoài: vốn đầu tư nước ngoài, lao động nước ngoài; tri thức, kinh nghiệm tổ chức và quản lí, khoa học - công nghệ.
b) Phân tích tác động của nguồn lực vị trí địa lí đến phát triển kinh tế
Vị trí địa lí tạo ra những thuận lợi hoặc khó khăn để trao đổi, tiếp cận, giao thoa hay cùng phát triển giữa các quốc gia với nhau:
- Thuận lợi:
+ Giao thương và hội nhập quốc tế: Vị trí địa lí gần các tuyến đường giao thông quốc tế (đường biển, đường bộ, hàng không) giúp giảm chi phí vận chuyển hàng hóa, đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu và tăng cường giao lưu kinh tế.
+ Tác động đến sự phát triển ngành kinh tế: kinh tế biển, kinh tế nông nghiệp, kinh tế công nghiệp,...
+ Thu hút các nhà đầu tư: Vị trí địa lí chiến lược, gần các trung tâm kinh tế lớn hoặc ở khu vực giao thương nhộn nhịp, sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
+ Điều kiện tự nhiên: quyết định kiểu khí hậu, tài nguyên phong phú,...
- Khó khăn:
+ Chịu ảnh hưởng của thiên tai.
+ Hạn chế xa trung tâm kinh tế lớn.
Ví dụ: Việt Nam có vị trí nằm ở rìa phía đông của bán đảo Đông Dương, gần trung tâm khu vực ĐNA, giáp biển => Thuận lợi giao lưu kinh tế với các nước trong khu vực và thế giới.
Tóm lại, trong xu thế hội nhập toàn cầu của nền kinh tế thế giới, vị trí địa lí là một nguồn lực để định hướng phát triển có lợi nhất trong phân công lao động toàn thế giới và xây dựng các mối quan hệ song phương hay đa phương của một quốc gia.
Câu 2: Suy nghĩ về hiện tượng “chảy máu chất xám” tại Việt Nam (600 chữ) "Chảy máu chất xám" – hiện tượng những người có trình độ chuyên môn cao rời bỏ quê hương để sang nước ngoài làm việc – từ lâu đã không còn là khái niệm xa lạ. Đây là một thực trạng đáng suy ngẫm, đặt ra nhiều thách thức cho sự phát triển bền vững của Việt Nam trong thời đại hội nhập. Nguyên nhân của hiện tượng này trước hết xuất phát từ sự chênh lệch về môi trường làm việc và chế độ đãi ngộ. Ở các quốc gia phát triển, người tài được làm việc trong không gian hiện đại, trang thiết bị tối tân và mức lương xứng đáng với năng lực. Ngược lại, tại Việt Nam, cơ sở vật chất ở nhiều lĩnh vực còn hạn chế, quy trình tuyển dụng và thăng tiến đôi khi còn nặng tính bằng cấp hoặc quan hệ, khiến người trẻ cảm thấy không có đất "dụng võ". Bên cạnh đó, xu hướng sính ngoại và mong muốn có một tương lai ổn định cho con cái cũng thúc đẩy nhiều người chọn con đường định cư tại nước ngoài. Hậu quả của "chảy máu chất xám" là vô cùng lớn. Đất nước mất đi nguồn lực quan trọng nhất để bứt phá về kinh tế và công nghệ. Nhà nước tốn kém chi phí đào tạo nhưng thành quả lao động lại đóng góp cho quốc gia khác. Nếu tình trạng này kéo dài, khoảng cách phát triển giữa Việt Nam và thế giới sẽ ngày càng xa hơn, chúng ta dễ rơi vào cái bẫy thu nhập trung bình và thiếu hụt nhân sự lãnh đạo tinh hoa. Tuy nhiên, chúng ta cần cái nhìn đa chiều hơn. Trong kỷ nguyên số, khái niệm biên giới đang dần mờ đi. Nhiều người Việt ở nước ngoài vẫn đang hướng về quê hương qua việc gửi kiều hối, chuyển giao công nghệ hoặc làm cầu nối hợp tác quốc tế. Đây có thể coi là hình thức "dự trữ chất xám" nếu chúng ta biết cách khai thác. Để giải quyết vấn đề, giải pháp căn cơ không phải là dùng mệnh lệnh hành chính để giữ chân, mà là tạo ra một hệ sinh thái đủ tốt. Nhà nước cần có chính sách trọng dụng nhân tài thực chất, cải cách chế độ tiền lương và quan trọng nhất là tạo ra môi trường làm việc minh bạch, công bằng. Hãy để người tài cảm thấy họ được tôn trọng và những đóng góp của họ thực sự có ý nghĩa đối với vận mệnh dân tộc. Tóm lại, chất xám là "nguyên khí" của quốc gia. Chừng nào chúng ta còn tạo ra được niềm tin và khát vọng cống hiến ngay tại quê nhà, chừng đó "dòng máu" tinh hoa mới có thể chảy ngược về để phụng sự cho Tổ quốc.
Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn (đặc trưng qua thi pháp dòng văn xuôi tự sự của Nguyễn Ngọc Tư). Câu 2. Người kể chuyện:
Người kể chuyện trong văn bản là người kể chuyện toàn tri. Người kể không xuất hiện trực tiếp trong câu chuyện nhưng thấu tỏ mọi suy nghĩ, cảm xúc thầm kín của các nhân vật (từ nỗi lòng khó xử của San, tâm tư của chị Sáu Tâm đến những lý do sâu xa khiến San từ bỏ giấc mơ đào hát). Câu 3. Thành phần chêm xen:
- Thành phần chêm xen: (như mấy tuồng cải lương bây giờ hay hát).
- Tác dụng:
- Về nội dung: Giải thích, minh họa cụ thể hơn cho các loại vai diễn/kịch bản phổ biến trong cải lương mà nhân vật San đang liên tưởng tới.
- Về nghệ thuật: Giúp câu văn trở nên gần gũi, mang đậm hơi thở đời thường và giọng điệu tâm tình đặc trưng của người dân Nam Bộ. Đồng thời, nó nhấn mạnh sự ám ảnh và tình yêu mãnh liệt của San dành cho cải lương.
Đoạn văn sử dụng điểm nhìn bên trong (nhập thân vào nhân vật San).
- Tác dụng:
- Giúp người đọc thấu hiểu chiều sâu tâm hồn của San: một cô gái làm nghề tiếp viên nhưng có tâm hồn trong sạch, trọng tình nghĩa và đầy tự trọng.
- Làm nổi bật sự đối lập giữa thực tại nghiệt ngã (phận bèo bọt, quán bia) và thế giới nội tâm thanh sạch (mơ làm đào hát, không sa đà vào bài bạc, số đề).
- Tạo sự đồng cảm sâu sắc, khiến nhân vật trở nên sống động, đa diện và giàu tính nhân văn hơn.
Đoạn trích để lại nỗi buồn man mác nhưng ấm áp tình người. Ta thấy ở đó:
- Sự hy sinh cao thượng: San từ bỏ giấc mơ lớn nhất đời mình (làm đào hát) không phải vì hết yêu nghề, mà vì lòng tự trọng — cô sợ cái quá khứ "tiếp viên quán bia" sẽ làm "nhơ danh" nghệ thuật. Đó là một sự hy sinh rứt ruột vì cái chung.
- Tình người trong nghịch cảnh: Cách chị Sáu Tâm muốn "trao" chồng mình cho San để San có một chỗ dựa, hay cách San âm thầm rút lui, cho thấy những thân phận nghèo khổ luôn đối xử với nhau bằng sự tử tế tột cùng.
- Thông điệp: Giá trị của một con người không nằm ở nghề nghiệp họ làm, mà ở cách họ bảo vệ danh dự cho những điều họ yêu kính.
Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn (đặc trưng qua thi pháp dòng văn xuôi tự sự của Nguyễn Ngọc Tư). Câu 2. Người kể chuyện:
Người kể chuyện trong văn bản là người kể chuyện toàn tri. Người kể không xuất hiện trực tiếp trong câu chuyện nhưng thấu tỏ mọi suy nghĩ, cảm xúc thầm kín của các nhân vật (từ nỗi lòng khó xử của San, tâm tư của chị Sáu Tâm đến những lý do sâu xa khiến San từ bỏ giấc mơ đào hát). Câu 3. Thành phần chêm xen:
- Thành phần chêm xen: (như mấy tuồng cải lương bây giờ hay hát).
- Tác dụng:
- Về nội dung: Giải thích, minh họa cụ thể hơn cho các loại vai diễn/kịch bản phổ biến trong cải lương mà nhân vật San đang liên tưởng tới.
- Về nghệ thuật: Giúp câu văn trở nên gần gũi, mang đậm hơi thở đời thường và giọng điệu tâm tình đặc trưng của người dân Nam Bộ. Đồng thời, nó nhấn mạnh sự ám ảnh và tình yêu mãnh liệt của San dành cho cải lương.
Đoạn văn sử dụng điểm nhìn bên trong (nhập thân vào nhân vật San).
- Tác dụng:
- Giúp người đọc thấu hiểu chiều sâu tâm hồn của San: một cô gái làm nghề tiếp viên nhưng có tâm hồn trong sạch, trọng tình nghĩa và đầy tự trọng.
- Làm nổi bật sự đối lập giữa thực tại nghiệt ngã (phận bèo bọt, quán bia) và thế giới nội tâm thanh sạch (mơ làm đào hát, không sa đà vào bài bạc, số đề).
- Tạo sự đồng cảm sâu sắc, khiến nhân vật trở nên sống động, đa diện và giàu tính nhân văn hơn.
Đoạn trích để lại nỗi buồn man mác nhưng ấm áp tình người. Ta thấy ở đó:
- Sự hy sinh cao thượng: San từ bỏ giấc mơ lớn nhất đời mình (làm đào hát) không phải vì hết yêu nghề, mà vì lòng tự trọng — cô sợ cái quá khứ "tiếp viên quán bia" sẽ làm "nhơ danh" nghệ thuật. Đó là một sự hy sinh rứt ruột vì cái chung.
- Tình người trong nghịch cảnh: Cách chị Sáu Tâm muốn "trao" chồng mình cho San để San có một chỗ dựa, hay cách San âm thầm rút lui, cho thấy những thân phận nghèo khổ luôn đối xử với nhau bằng sự tử tế tột cùng.
- Thông điệp: Giá trị của một con người không nằm ở nghề nghiệp họ làm, mà ở cách họ bảo vệ danh dự cho những điều họ yêu kính.
Giải pháp: ứng dụng chế phẩm vi sinh (Bt, nấm xanh, nấm trắng)
- Cách làm: phun các chế phẩm chứa vi khuẩn Bacillus thuringiensis (Bt) hoặc nấm ký sinh (Metarhizium, Beauveria) lên rau
- Giải thích:
+ Tính chọn lọc cao: chỉ tiêu diệt sâu hại, không gây hại cho thiên địch và con người
+ Không để lại dư lượng: đảm bảo tiêu chuẩn rau hữu cơ sạch, không nhiễm hóa chất
+ thân thiện môi trường: giúp cân bằng hệ sinh thái đất và nước, không gây hiện tượng kháng thuốc ở sâu hại
Tác dụng bảo vệ môi trường, bảo vệ hệ sinh thái và sức khỏe con người của biện pháp sinh học và biện pháp quản lí dịch hại tổng hợp trong phòng trừ sâu, bệnh hại: * Biện pháp sinh học: - Với môi trường: thân thiện với môi trường - Với hệ sinh thái: an toàn với cây trồng, có tác dụng lâu dài - Với sức khỏe con người: an toàn với con người * Biện pháp quản lí dịch hại tổng hợp: - Với môi trường: bảo vệ môi trường nếu thực hiện đúng cách - Với hệ sinh thái: bảo vệ đa dạng sinh học - Với sức khỏe con người: an toàn với sức khỏe con người nếu thực hiện đúng cách