Trần Trung Hiếu
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 Bài thơ Bến đò ngày mưa gợi lên trong em nhiều cảm xúc lắng đọng bởi cảm hứng chủ đạo bao trùm là nỗi buồn man mác, cô đơn và trầm lắng. Sáu câu thơ đầu mở ra khung cảnh thiên nhiên nơi bến đò trong mưa với tre “rũ rợi”, chuối “bơ phờ”, con thuyền “đậu trơ vơ”, tất cả đều nhuốm màu u ám, tiêu điều. Đến sáu câu thơ sau, hình ảnh con người hiện lên thưa thớt, mệt mỏi: vài quán hàng vắng khách, bác lái đò lặng lẽ hút điếu thuốc, người đi chợ thì “họa hoằn” mới xuất hiện. Từ cảnh đến người, tất cả đều chìm trong sự vắng lặng, buồn bã, tạo nên mạch cảm xúc thống nhất xuyên suốt bài thơ. Qua đó, em cảm nhận được chủ đề của tác phẩm chính là tình yêu quê hương thầm kín của tác giả. Không cần lời bộc lộ trực tiếp, tình cảm ấy được gửi gắm qua việc khắc họa tỉ mỉ, chân thực cảnh bến đò nghèo trong mưa – một góc quê hương bình dị nhưng chứa đựng biết bao nỗi niềm thương cảm. Câu 2: Quê hương có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cuộc đời mỗi con người. Đó không chỉ là nơi ta sinh ra và lớn lên mà còn là điểm tựa tinh thần bền vững theo ta suốt hành trình cuộc sống. Quê hương trước hết là nơi lưu giữ những kỉ niệm đẹp đẽ nhất của tuổi thơ: con đường làng, dòng sông, mái trường, tiếng ru của bà, lời dạy của cha mẹ. Những kí ức ấy nuôi dưỡng tâm hồn con người, giúp ta hình thành nhân cách và tình cảm từ những điều giản dị nhất. Khi lớn lên, dù có đi xa đến đâu, quê hương vẫn luôn mang lại cảm giác bình yên, an toàn, là nơi để ta nhớ về mỗi khi mệt mỏi, vấp ngã giữa dòng đời. Không chỉ vậy, quê hương còn là nguồn động lực mạnh mẽ thôi thúc con người cố gắng vươn lên. Tình yêu quê hương khiến ta sống có trách nhiệm hơn với bản thân và cộng đồng, nỗ lực học tập, lao động để góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Đồng thời, quê hương cũng là nơi gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống, từ phong tục, tập quán đến lối sống nghĩa tình, nhân hậu – những điều làm nên bản sắc dân tộc. Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập và phát triển, nhiều bạn trẻ ngày nay dần xa rời quê hương, thờ ơ với cội nguồn, quên đi những giá trị truyền thống quý báu. Đây là điều đáng suy ngẫm, bởi khi con người đánh mất sự gắn bó với quê hương, cũng là lúc họ dễ trở nên lạc lõng, thiếu điểm tựa tinh thần. Vì vậy, mỗi người cần biết trân trọng quê hương bằng những hành động thiết thực: giữ gìn nét đẹp văn hóa, sống có trách nhiệm, cố gắng học tập và rèn luyện để mai này đóng góp cho nơi mình sinh ra. Quê hương không chỉ là điểm khởi đầu của cuộc đời, mà còn là nơi neo đậu tâm hồn, theo ta suốt cả chặng đường dài phía trước.
Câu 1.
Thể thơ: Tám chữ.
Câu 2.
Đề tài: Khung cảnh bến đò ngày mưa.
Câu 3.
– Biện pháp tu từ có trong bài thơ: Nhân hóa, so sánh, liệt kê.
– Tác dụng của biện pháp tu từ:
+ Nhân hóa: Tre rũ rợi ven bờ chen ướt át; Vài quán hàng không khách đứng xo ro;... khiến cho sự vật hiện lên sinh động hơn.
+ So sánh: Ngoài đường lội họa hoằn người đến chợ/ Thúng đội đầu như đội cả trời mưa. Hình ảnh so sánh gợi lên trong tâm tưởng của bạn đọc khung cảnh ảm đạm, tiêu điều trong một ngày mưa ở bến đò.
+ Liệt kê: Chỉ ra những hình ảnh cảnh vật, con người trong ngày mưa tại bến đò, góp phần khắc họa chi tiết khung cảnh ảm đạm, tiêu điều ấy.
Câu 4.
– Bức tranh bến đò ngày mưa được tác giả miêu tả qua những hình ảnh: Tre rũ rợi, chuối bơ phờ, dòng sông trôi rào rạt, con thuyền đậu trơ vơ, quán hàng đứng xo ro, quán hàng đứng xo ro, một bác lái ghé vào hút điếu, bà hàng sù sụ sặc hơi, ho, họa hoằn có người đến chợ, họa hoằn có con thuyền ghé chở, thúng đội đầu như đội cả trời mưa.
– Những hình ảnh đó gợi cho em cảm nhận về một khung cảnh ảm đạm, hoang vắng, tiêu điều.
Câu 5.
Bức tranh bến đò ngày mưa là một bức tranh vắng lặng, ảm đạm, đơn điệu và tẻ nhạt, ẩn chứa nỗi buồn man mác. Dù bức tranh cảnh vật có bóng dáng của con người nhưng hình ảnh con người đều ít ỏi, dường như chỉ là "một", "họa hoằn" mới xuất hiện; còn khi xuất hiện thì hầu hết con người đều trong trạng thái mệt mỏi, buồn lặng, càng tô đậm thêm sự đơn điệu, ảm đạm của cảnh vật. Như vậy, qua bức tranh này, bài thơ gợi lên nỗi buồn man mác, sự lạnh lẽo, cô đơn trước cuộc sống vắng lặng, tiêu điều nơi đây.
câu 1: Bài thơ "Việt Nam quê hương ta" đã để lại trong em những tình cảm sâu sắc về tình yêu quê hương,đất nước.Mở đầu bài thơ, tác giả đã bày tỏ tình yêu sâu sắc đối với quê hương Việt Nam.Những hình ảnh đẹp của quê hương như cách đồng lúa có cò bay thẳng cách,biển lúa mênh mông,đỉnh Trường Sơn mây mờ huyền ảo đã được tác giả nhắc đến để ca ngợi vẻ đẹp phong phú của quê hương.Không chỉ ca ngợi vẻ đẹo của đất nước,tác giả còn ca ngợi những con người Việt Nam chân chất,thật thà,chăm chỉ ,chịu khó nhưng cũng rất kiên cường,dũng cảm.Để đất nước phát triển giàu mạnh như ngày hôm nay,ông cha ta là các thế hệ đi trước đã phải hy sinh,đổ cả máu mình vì Tổ quốc.Trên chiến trường,họ là những con người quả cảm,hết mình chiến đấu vì độc lập dân tộc,họ sẵn sàng cầm gươm ,giáo để đảnh đuổi giặc nhưng khi sống,họ luôn là những người mẹ chịu khó,những người cha hy sinh,những người con ngoan ngoãn và cả những người hàng xóm thân thiện.Cứ nhắc đến quê hương,tác giả mỗi khi xa nhà lại thấy chạnh lòng,ông nhớ quê ,nhớ hình ảnh những con người giản dị nhưng chưa bao giờ chịu khuất phục trước kẻ thù,nhớ từng tấc đất,từng khoảnh khắc gắn bó với quê nhà.Trong tâm chí ông vẫn mãi nhớ hình ảnh núi rừng,dòng sông,cánh đồng và cả bữa cơm mộc mạc mà thấm đượm tình yêu của gia đình.Không chỉ hấp dẫn người đọc về giá trị nội dung,bài thơ còn thành công về mặt nghệ thuật đăc sắc.Thể thơ lục bát với ngôn ngữ thơ mộc mạc,giản dị;hình ảnh thơ gần gũi,quen thuộc;giọng điệu thơ nhẹ nhàng,sâu lắng ,đi sâu vào lòng người đọc.Tác giả còn sử dụng thành công các BPTT điệp ngữ,liệt kê dể thể hiện nỗi nhớ của mình với những hình ảnh đẹp đẽ của quê hương .Qua đó,tác giả đã khơi gợi trong mỗi chúng ta về tình yêu quê hương,đất nước da diết,đồng thời tác giả nhắn nhủ mỗi chúng ta phải luôn yêu quý,trân trọng những vẻ đẹp và con người của quê hương Việt Nam. câu 2: Tinh thần dân tộc là ngọn lửa thiêng liêng, là nguồn sức mạnh nội sinh vô tận đã giúp dân tộc Việt Nam vượt qua muôn vàn giông bão để tồn tại và phát triển rực rỡ qua hàng ngàn năm lịch sử. Đó không chỉ là một khái niệm trừu tượng mà là những biểu hiện sinh động, thấm sâu vào máu thịt của mỗi người con đất Việt, từ lòng yêu nước nồng nàn, ý thức tự tôn cho đến tinh thần đoàn kết gắn bó máu thịt. Trước hết, tinh thần dân tộc được hun đúc qua những trang sử vàng chói lọi. Từ thuở các Vua Hùng dựng nước cho đến những chiến công hiển hách trên sông Bạch Đằng, tại ải Chi Lăng hay Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu", lòng yêu nước luôn là vũ khí sắc bén nhất. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định trong các tài liệu lưu trữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, tinh thần ấy khi được khơi dậy sẽ kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, nhấn chìm mọi lũ bán nước và cướp nước. Đó chính là sự khẳng định chủ quyền, ý chí thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ. Bước sang thời bình, tinh thần dân tộc lại mang những diện mạo mới nhưng không kém phần mãnh liệt. Nó hiện hữu trong sự đồng lòng của cả dân tộc khi đối mặt với thiên tai, dịch bệnh. Hình ảnh những đoàn xe cứu trợ nối đuôi nhau về miền Trung lũ lụt, hay tinh thần "chống dịch như chống giặc" trong đại dịch COVID-19 là minh chứng sống động cho truyền thống "tương thân tương ái". Không chỉ vậy, tinh thần dân tộc còn là niềm tự hào tự tôn khi nhìn thấy lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên đấu trường quốc tế, là ý thức gìn giữ vẻ đẹp của tiếng Việt và các giá trị văn hóa được vinh danh trên trang chủ của UNESCO. Mỗi thành công của cá nhân trên trường quốc tế giờ đây không chỉ là danh dự riêng mà còn là niềm kiêu hãnh của cả một quốc gia. Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập toàn cầu, tinh thần dân tộc đang đứng trước những thách thức mới. Yêu nước không có nghĩa là cực đoan, bài ngoại mà là biết tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu cho bản sắc quê hương. Thế hệ trẻ ngày nay cần thể hiện tinh thần dân tộc bằng "cái đầu lạnh và trái tim nóng": nỗ lực học tập để đưa công nghệ, tri thức Việt ghi dấu ấn trên bản đồ thế giới, đồng thời quyết liệt đấu tranh chống lại những biểu hiện suy thoái đạo đức hay những luận điệu xuyên tạc lịch sử. Tóm lại, tinh thần dân tộc là cội nguồn của mọi chiến thắng và là bệ phóng để Việt Nam vươn xa. Bồi đắp tình cảm này là trách nhiệm của mỗi cá nhân, để ngọn lửa ấy mãi cháy sáng, dẫn dắt dân tộc ta vững bước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
câu 1:Thể thơ:lục bát câu 2:PTBĐ chính :biểu cảm câu 3: -BPTT điệp ngữ:Nhớ -Tác dụng: +Làm cho câu thơ sinh động ,hấp dẫn,tăng sức gợi hình gợi tả,tạo tính liên kết;tạo giọng điệu nhẹ nhàng ,tha thiết khiến câu thơ hàm súc.giàu giá trị biểu cảm. +Tác giả nhấn mạnh nỗi nhớ quê hương khi đi xa,nhớ những hình ảnh thân thuộc và gần gũi như núi rừng,dòng sông,đồng ruộng,bữa cơm quay quần bên gia đình.Những hình ảnh ấy tuy giản dị nhưng lại luôn là nỗi niềm khát khao của những người con khi xa quê. +Qua đó ,ta thấy tác giả vô cùng yêu mến,trân trọng và luôn nhớ mong những hình ảnh thân thuộc của quê hương;đồng thời tác giả nhắn nhủ mỗi người phải luôn tran trọng và lưu giữ những kỉ niệm đẹp với quê hương,sau này có đi đâu xa vẫn luôn nhớ về. câu 4: - Con người Việt Nam hiện lên trong bài thơ với những phẩm chất: +Yêu quê hương,đất nước sâu sắc +Luôn sẵn sàng hy sinh vì độc lập dân tộc +Dũng cảm,bất khuất câu 5: -đề tài:tình yêu quê hương,đất nước -chủ đề:ca ngợi những hình ảnh đẹp đất nước và những con người Việt Nam Bài 2
Câu 1:
Trong đoạn trích, nhân vật Lê Tương Dực hiện lên như một vị vua hôn quân, ăn chơi hưởng lạc và bỏ mặc triều chính. Khi Trịnh Duy Sản vào can gián, ông tỏ rõ thái độ khó chịu, nóng nảy, thậm chí cau mặt, quát mắng và rút kiếm đe dọa. Những chỉ dẫn sân khấu ấy cho thấy Lê Tương Dực là người ngạo mạn, độc đoán, không biết lắng nghe lời trung thần. Trước những lời cảnh báo khẩn thiết về giặc giã khắp nơi, ông chỉ đáp lại bằng sự xem nhẹ và ảo tưởng quyền lực: “Kinh thành này vững như bàn thạch”. Điều này thể hiện sự mê muội, không hiểu được tình cảnh rối ren của đất nước. Đặc biệt, ông bảo vệ việc xây Cửu Trùng Đài đến cùng vì mê tửu sắc, muốn có nơi hưởng lạc, chứng tỏ sự sa đọa và ích kỷ, đặt thú vui cá nhân lên trên an nguy của dân. Trước lời can gián thẳng thắn, ông giận dữ xua đuổi Trịnh Duy Sản, càng làm rõ bản chất bạo ngược và sự suy thoái đạo đức của một kẻ đứng đầu triều đình. Nhân vật Lê Tương Dực vì vậy là hình ảnh đại diện cho sự tha hóa quyền lực, nguyên nhân dẫn đến sự suy vong của triều Lê lúc bấy giờ. Câu 2: Trong cuộc sống hiện đại, khi nhịp sống trở nên nhanh chóng và con người bận rộn hơn, “bệnh vô cảm” đang dần trở thành một vấn đề đáng lo ngại, đặc biệt trong giới trẻ. Vô cảm là sự thờ ơ, lạnh lùng, không quan tâm đến người khác, thậm chí thụ động trước những điều sai trái diễn ra quanh mình. Đây là căn bệnh tinh thần âm thầm nhưng gây ra nhiều hậu quả nặng nề cho xã hội. Một bộ phận giới trẻ hiện nay tỏ ra vô cảm trước nỗi đau và khó khăn của người khác. Không ít bạn mặc kệ người gặp nạn trên đường, thờ ơ trước bạn bè bị bắt nạt, hoặc chỉ đứng xem rồi quay clip đăng mạng xã hội thay vì giúp đỡ. Có bạn chỉ quan tâm đến thế giới ảo, sống khép kín trong điện thoại, trò chơi, mạng xã hội mà quên đi trách nhiệm và sự chia sẻ với gia đình, cộng đồng. Nguyên nhân của hiện tượng này đến từ lối sống cá nhân hóa, từ áp lực học tập, từ việc thiếu kỹ năng sống và sự quan tâm đúng mức từ gia đình, nhà trường. Bệnh vô cảm khiến con người xa cách nhau, làm suy giảm các giá trị đạo đức và làm mất đi tính nhân văn vốn có. Một xã hội mà con người không biết yêu thương thì khó có thể phát triển bền vững. Vì vậy, mỗi bạn trẻ cần học cách mở lòng, biết quan tâm, chia sẻ và hành động khi cần thiết; biết đặt mình vào hoàn cảnh người khác để hiểu và giúp đỡ. Cũng cần rèn luyện thói quen sống tích cực, tham gia các hoạt động cộng đồng để nuôi dưỡng lòng nhân ái. Khi mỗi người biết sống có trách nhiệm hơn, xã hội sẽ trở nên tốt đẹp, giàu tình người và bớt đi những nỗi đau do sự thờ ơ gây ra.
Câu 1:Đoạn trích tái hiện cảnh Trịnh Duy Sản vào cung can gián vua Lê Tương Dực, vạch rõ nạn giặc giã, sự oán hận của dân và tình hình triều chính đổ nát. Ông khuyên vua bỏ việc xây Cửu Trùng Đài, sửa sang chính sự, nhưng vua không nghe, còn nổi giận. Câu 2. Dẫn ra một lời độc thoại của nhân vật trong đoạn trích trên. Lời độc thoại là lời nhân vật tự nói một mình, không hướng tới ai. Lê Tương Dực (cau mặt): “Lão gàn quái! Có việc gì khẩn cấp?”
Câu 3. Nhận xét về những chỉ dẫn sân khấu của vua Lê Tương Dực. Chỉ dẫn sân khấu cho thấy tính cách và trạng thái của nhà vua: cau mặt, giận dữ, quát nạt, rút kiếm… Góp phần khắc họa Lê Tương Dực là một hôn quân nóng nảy, độc đoán, ích kỷ, không quan tâm đến vận nước. Giúp người đọc ,khán giả hình dung rõ hơn không khí căng thẳng, đối lập giữa vua và Trịnh Duy Sản. Câu 4. Tác dụng biện pháp từ từ trong đoạn văn được nêu. Biện pháp tu từ chính: liệt kê kết hợp với tăng cấp và hình ảnh gợi cảm. Tác dụng: Nêu hàng loạt địa danh và tội ác của giặc , cho thấy tình hình rối ren khắp nơi, quy mô rộng lớn. Nhấn mạnh nỗi thống khổ của dân: bị giặc cướp phá, mất mùa, bỏ hoang ruộng nương, không còn cuộc sống yên ổn. Tạo nên không khí ngột ngạt, hỗn loạn, báo trước sự sụp đổ của triều đình. Giúp lời can gián của Trịnh Duy Sản trở nên thuyết phục, mạnh mẽ hơn. Câu 5:Từ đoạn trích, có thể thấy: Triều đình Lê rệu rã, vua ăn chơi, bỏ bê việc nước. Tham quan, nịnh thần hoành hành, chính sự đổ nát. Dân chúng lầm than, thuế khóa nặng nề, bị bóc lột để phục vụ việc xây Cửu Trùng Đài. Khởi nghĩa nổ ra khắp nơi, cho thấy mâu thuẫn xã hội đã lên đến đỉnh điểm. Bối cảnh xã hội là loạn lạc, bất ổn, trên dưới chia rẽ, triều đình đứng bên bờ sụp đổ.
Câu 1: Lý Hữu Chi là hình tượng điển hình cho kẻ có quyền thế nhưng bị lòng tham và dục vọng làm mờ mắt . Từ một người dân bình thường , nhờ sức khỏe và tài đánh trận , Lý được trọng dụng , thăng chức tướng quân . Tuỳ nhiên , khi có quyền lực , hắn dần bộc lộ bản chất xấu xa : tham lam vô độ , coi thường người khác , ham sắc , ham của , tàn bạo với dân lành . Dù đã được cảnh tỉnh bằng lời khuyên của thầy tướng số và lời mẹ , Hữu Chi vẫn ngoan cố , tiếp tục gây tội ác . Kết cục , hắn phải chịu sự trừng phạt khủng khiếp nơi địa ngục . Qua nhân vật này , Nguyễn Dữ phê phán gay gắt thói tham lam , tàn ác của con người khi có quyền trong tay , đồng thời thể hiện niềm tin vào đạo lý " thiện giả thiện báo , ác giả ác báo ". Hình tượng Lý Hữu Chi là lời nhắc nhở mỗi người phải biết tự kiềm chế lòng tham , sống lương thiện và nhân nghĩa.
Câu 1: Văn bản trên thuộc thể loại truyện truyền kì
Câu 2: - Văn bản được kể theo ngôi thứ ba
- Người kể chuyện ẩn mình , kể lại toàn bộ sự việc.
Câu 3: Nhân vật chính trong văn bản là Lý Hữu Chi.
Nhân vật được miêu tả với những nét tính cách : tham lam ,tàn bạo , kiêu ngạo ,coi thường đạo lý , phớt lờ lời khuyên thiện , cuối cùng bị báo ứng nặng nề.
Câu 4: Chi tiết hoang đường kì ảo trong truyện là : Là cảnh ông thầy tướng đưa chùm hạt châu cho Lý Hữu Chi xem, trong đó hiện ra lò lửa , vạc dầu ,quỷ dữ và hình ảnh Lý Hữu Chi bị gông xiềng tra tấn , hoặc chi tiết Thúc Khoản được xuống Minh Ti chứng kiến cảnh xử tội linh hồn cha mình.
- Tác dụng :
+ Làm cho câu chuyện thêm hấp dẫn , li kì , đồng thời thể hiện quan niệm nhân quả - thiện ác hữu bảo của dân gian .
+ Những chi tiết này không có thật trong đời sống hiện thực , mang yếu tố siêu nhiên , tưởng tượng đặc trưng của truyện truyền kì.
+ Qua đó tác giả muốn nhắn nhủ chúng ta phải sống đúng đạo lý , tránh làm điều ác nếu không sẽ bị trừng phạt
Câu 5: Ý nghĩa và bài học là :
- Chuyện Lý tướng quân khẳng định đạo lý muôn đời : " Ở hiền gặp lành , ở ác gặp ác " .Tác phẩm phê phán những kẻ có quyền thế mà tàn bạo , tham lam ,coi thường đạo trời , đồng thời nhắc nhở con người phải biết giữ lòng lương thiện , tránh tham lam , kiêu ngạo và biết điểm dừng trong cuộc sống .
- Bản thân em rút ra được bài học là : Cần sống nhân hậu , trung thực và biết tôn trọng người khác để nhận được sự bình an , hạnh phúc.
Đoạn trích thể hiện nỗi cô đơn, sầu muộn và khát vọng đoàn tụ của người chinh phụ khi xa chồng nơi chiến trận. Không gian và thời gian được miêu tả bằng những hình ảnh, âm thanh gợi buồn: hiên vắng, rèm thưa, tiếng gà eo óc, ánh đèn khuya. Từng chi tiết như “đèn biết chăng”, “hoa đèn kia với bóng người khá thương” khắc họa tâm trạng cô quạnh đến tột cùng, khiến người phụ nữ phải tìm đến những vật vô tri để sẻ chia nỗi nhớ. Ngôn ngữ trong sáng, nhịp điệu mềm mại, giàu nhạc tính; nghệ thuật sử dụng từ láy, ẩn dụ, nhân hóa tinh tế; cùng bút pháp ước lệ tượng trưng đã tạo nên bức tranh tâm trạng đặc sắc. Qua đó, đoạn ngâm thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc: tiếng nói cảm thông cho thân phận người phụ nữ cô đơn trong chiến tranh, đồng thời phê phán cuộc chiến phi nghĩa đã chia lìa hạnh phúc lứa đôi.
Từ truyện “Từ Thức lấy vợ tiên” em rút ra được thông điệp ý nghĩa nhất là: con người không thể sống tách rời khỏi địa ngục trần thế , dù cảnh tiên có đẹp đến đâu cũng không đến được mình.
Qua hình tượng Từ Thức, tác giả gửi gắm tư tưởng nhân sinh sâu sắc: con người luôn khát khao tự do, cái đẹp, và sự hoàn thiện tinh thần, nhưng hạnh phúc chỉ có ý nghĩa khi gắn với cuộc sống thực. Giấc mộng tiên giới chỉ là thoáng chốc, còn cõi đời với tình cảm, quê hương, và thời gian mới là nơi con người thực sự thuộc về.