Nguyễn Thị Hồng
Giới thiệu về bản thân
Câu 1
Bài thơ "Bài học đầu cho con" của Đỗ Trung Quân đã để lại trong lòng em những cảm xúc sâu sắc về tình yêu quê hương. Bằng những hình ảnh vô cùng giản dị và gần gũi như "chùm khế ngọt", "con diều biếc" hay "con đò nhỏ", tác giả đã định nghĩa quê hương một cách tự nhiên, chân thực, gắn liền với kí ức tuổi thơ trong trẻo của mỗi người. Phép so sánh xuyên suốt bài thơ cùng nhịp điệu nhẹ nhàng như lời ru của mẹ đã khơi gợi trong em niềm tự hào và sự gắn bó máu thịt với nơi chôn rau cắt rốn. Đặc biệt, hai câu thơ cuối: "Quê hương mỗi người chỉ một/ Như là chỉ một mẹ thôi" là một thông điệp vô giá, nhắc nhở chúng ta rằng quê hương chính là nguồn cội, là bến đỗ bình yên nhất. Sau khi đọc bài thơ, em tự hứa sẽ luôn trân trọng, gìn giữ và nỗ lực học tập để góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.
Câu 2
Trong hành trình trưởng thành của mỗi người, tình yêu quê hương luôn là dòng suối mát lành bồi đắp và nuôi dưỡng tâm hồn. Nhà thơ Đỗ Trung Quân đã mang đến một định nghĩa vừa giản dị vừa thiêng liêng: "Quê hương mỗi người chỉ một/ Như là chỉ một mẹ thôi". Lời khẳng định này cho thấy quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra, mà còn là bản sắc, là phần máu thịt không thể tách rời trong tâm thức mỗi cá nhân. Quê hương hiện lên trong tâm hồn ta qua những hình ảnh bình dị nhất: là "chùm khế ngọt", là "con diều biếc" thả trên đồng, hay "cầu tre nhỏ mẹ về nón lá nghiêng che". Những hình ảnh ấy chính là cái nôi đầu tiên bồi đắp lòng nhân ái và tình yêu thương. Việc ví quê hương với "mẹ" nhấn mạnh tính duy nhất và sự gắn kết vô hình nhưng bền chặt. Khi ta có tình yêu quê hương, ta có một điểm tựa tinh thần vững chãi; dù đi xa hay gặp nghịch cảnh, nỗi nhớ về "vòng tay ấm" của mảnh đất cội nguồn luôn tiếp thêm sức mạnh để ta vượt qua tất cả. Tình yêu ấy giúp con người biết sống trách nhiệm hơn, nỗ lực hơn để làm rạng danh nơi mình đã sinh ra. Ngược lại, nếu một người không có lòng yêu quê hương, đó sẽ là một sự khiếm khuyết lớn trong nhân cách. Tác giả đã cảnh báo rất nghiêm khắc: "Quê hương nếu ai không nhớ/ Sẽ không lớn nổi thành người". Kẻ chối bỏ cội nguồn sẽ trở nên lạc lõng, trống rỗng vì thiếu đi rễ sâu bám vào bản sắc dân tộc. Khi không biết ơn mảnh đất nuôi dưỡng mình, con người dễ rơi vào lối sống vị kỷ, thực dụng và mất đi sự thấu cảm với đồng loại. Một tâm hồn không có quê hương giống như một cánh diều đứt dây, mãi mãi không thể tìm thấy bến đỗ bình yên và giá trị thực sự của sự trưởng thành. Vì vậy, yêu quê hương như yêu chính người mẹ của mình là bài học đầu tiên và quan trọng nhất để mỗi chúng ta trở thành một con người hoàn thiện.
Câu 1 :
Bài thơ "Bài học đầu cho con" của Đỗ Trung Quân đã để lại trong lòng em những cảm xúc sâu sắc về tình yêu quê hương. Bằng những hình ảnh vô cùng giản dị và gần gũi như "chùm khế ngọt", "con diều biếc" hay "con đò nhỏ", tác giả đã định nghĩa quê hương một cách tự nhiên, chân thực, gắn liền với kí ức tuổi thơ trong trẻo của mỗi người. Phép so sánh xuyên suốt bài thơ cùng nhịp điệu nhẹ nhàng như lời ru của mẹ đã khơi gợi trong em niềm tự hào và sự gắn bó máu thịt với nơi chôn rau cắt rốn. Đặc biệt, hai câu thơ cuối: "Quê hương mỗi người chỉ một/ Như là chỉ một mẹ thôi" là một thông điệp vô giá, nhắc nhở chúng ta rằng quê hương chính là nguồn cội, là bến đỗ bình yên nhất. Sau khi đọc bài thơ, em tự hứa sẽ luôn trân trọng, gìn giữ và nỗ lực học tập để góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.
Câu 1 Bài thơ "Bài học đầu cho con" của Đỗ Trung Quân đã để lại trong lòng em những cảm xúc sâu sắc về tình yêu quê hương. Bằng những hình ảnh vô cùng giản dị và gần gũi như "chùm khế ngọt", "con diều biếc" hay "con đò nhỏ", tác giả đã định nghĩa quê hương một cách tự nhiên, chân thực, gắn liền với kí ức tuổi thơ trong trẻo của mỗi người. Phép so sánh xuyên suốt bài thơ cùng nhịp điệu nhẹ nhàng như lời ru của mẹ đã khơi gợi trong em niềm tự hào và sự gắn bó máu thịt với nơi chôn rau cắt rốn. Đặc biệt, hai câu thơ cuối: "Quê hương mỗi người chỉ một/ Như là chỉ một mẹ thôi" là một thông điệp vô giá, nhắc nhở chúng ta rằng quê hương chính là nguồn cội, là bến đỗ bình yên nhất. Sau khi đọc bài thơ, em tự hứa sẽ luôn trân trọng, gìn giữ và nỗ lực học tập để góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.
Bài thơ "Bài học đầu cho con" của Đỗ Trung Quân đã để lại trong lòng em những cảm xúc sâu sắc về tình yêu quê hương. Bằng những hình ảnh vô cùng giản dị và gần gũi như "chùm khế ngọt", "con diều biếc" hay "con đò nhỏ", tác giả đã định nghĩa quê hương một cách tự nhiên, chân thực, gắn liền với kí ức tuổi thơ trong trẻo của mỗi người. Phép so sánh xuyên suốt bài thơ cùng nhịp điệu nhẹ nhàng như lời ru của mẹ đã khơi gợi trong em niềm tự hào và sự gắn bó máu thịt với nơi chôn rau cắt rốn. Đặc biệt, hai câu thơ cuối: "Quê hương mỗi người chỉ một/Như là chỉ một mẹ thôi" là một thông điệp vô giá, nhắc nhở chúng ta rằng quê hương chính là nguồn cội, là bến đỗ bình yên nhất. Sau khi đọc bài thơ, em tự hứa sẽ luôn trân trọng, gìn giữ và nỗ lực học tập để góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.
Câu 1 : thể thơ của bài là : thể thơ 6 chữ
Câu 2 : bài thơ là lời của người mẹ nói với con
Câu 3 4 hình ảnh nói về quê hương trong bài
+ Chùm khế ngọt
+ Đường đi học
+ Con diều biếc
+ Con đò nhỏ
Qua những hình ảnh trên cho bản thân người đọc thấy được sự gần gũi thân thuộc của quê hương , những hình ảnh rất thân thuộc trong mỗi ký ức tuổi thơ mỗi người . Không cao siêu mà nó hiện hữu thân quen vô cùng với ta mỗi khi đi xa ta lại nhớ về những ngày tháng dạo trên con đường làng đi trên con đường để đi đến trường, .... Những thứ đó đều làm ta nhớ mãi về làngquê thanh bình ấm áp muốn được trở về ngày nhỏ để được đi trên con đường đó .
Câu 4 Biện pháp tu từ so sánh
Từ ngữ "Quê hương là" ... Với những hình ảnh được gắn trong bài , được lặp đi lặp lại
+ Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh giúp câu thơ them sinh động hấp dẫn gợi hình gợi cảm , độc giả dễ hình dung tranh về làng quê muôn màu như nào
+ Tác giả muốn cho người đọc thấy rõ được quê hương VN đẹp nhường nào , khắc ghi những hình ảnh đẹp đó vào trong trí nhớ đi đâu cũng nhớ về quê hương tổ quốc
+ Qua đó muốn nói lên lòng yêu thương quê hương đất nước vô bờ bến của tác giả muốn người đi xa luôn nhớ đến quê hương về lại với chúng
Câu 5 với em câu thơ trong bài có ý nghĩa sâu nặng về cả tình yêu thương quê hương và tình mẫu tử . Quê hương chính là nguồn cội, là nơi bao bọc và nuôi dưỡng tâm hồn ta. Việc ví quê hương với mẹ giúp người đọc hiểu rằng yêu quê hương cũng chính là đạo hiếu, là lẽ sống căn bản của con người. Nếu ai không yêu quê hương, không nhớ về nguồn cội thì sẽ khó có thể trưởng thành một cách trọn vẹn về tâm hồn.
Trong kho tàng truyện cười dân gian, tiếng cười thường được cất lên để thanh lọc tâm hồn và bài trừ cái xấu. Truyện "Nói dóc gặp nhau" là một bản cáo trạng đanh thép, phê phán nặng nề những kẻ sống thiếu trung thực, luôn dùng những lời lẽ hợm hĩnh để tự đánh bóng bản thân. Qua hình ảnh hai anh chàng "đấu khẩu" bằng những điều viễn vông, ta thấy rõ sự thối nát của thói dối trá và ý nghĩa sống còn của lòng trung thực trong đời sống con người. Trước hết, thói dối trá là một căn bệnh tinh thần biến con người trở nên lố bịch và đánh mất đi sự tôn trọng tối thiểu từ cộng đồng. Hãy nhìn vào anh chàng đi làm ăn xa về: thay vì chia sẻ những kinh nghiệm thực tế, anh ta lại huênh hoang kể về một chiếc ghe dài đến mức người ta đi từ lúc trẻ đến khi "râu tóc bạc phơ" vẫn chưa tới lái. Đây là kiểu người hám danh hão, sẵn sàng "quăng lựu đạn" bằng những con số phi lý để mong nhận được sự trầm trồ, kính nể của bà con lối xóm. Lời nói dối này không chỉ thể hiện sự dốt nát về kiến thức thực tế mà còn là một sự xúc phạm nặng nề đến trí tuệ của người nghe. Thế nhưng, "vỏ quýt dày có móng tay nhọn", anh chàng ở nhà cũng không kém phần gian dối khi bịa ra câu chuyện cây đa cao đến mức "bảy đời" hạt mới rơi tới đất. Cuộc đối đầu này thực chất là một sự mỉa mai cay nghiệt: khi những kẻ dối trá gặp nhau, họ không tạo ra bất cứ giá trị nào cho xã hội mà chỉ tạo ra một đống rác rưởi của ngôn từ. Câu trả lời "lấy gỗ đóng chiếc ghe của anh" như một cú tát trực diện vào thói khoe khoang, cho thấy kẻ nói dối sẽ sớm muộn bị chính những lời lẽ của mình bẫy chết trong sự nhục nhã. Ngược lại với thói nói dóc chính là lòng trung thực – kim chỉ nam cho một nhân cách cao thượng. Người trung thực không cần những chiếc ghe khổng lồ hay cây đa xuyên tầng mây để khẳng định mình; họ khẳng định giá trị qua sự chân thành và những việc làm thực chất. Trong khi thói dối trá chia rẽ con người và xây dựng niềm tin trên cát, thì lòng trung thực là chất keo gắn kết bền vững nhất. Xã hội sẽ ra sao nếu ai cũng học theo hai anh chàng kia, coi việc lừa lọc là tài năng và lấy sự giả tạo làm niềm tự hào? Đó chắc chắn sẽ là một xã hội suy đồi về đạo đức và tan rã về niềm tin. Tóm lại, truyện "Nói dóc gặp nhau" không chỉ để cười cho vui, mà là lời cảnh báo đanh thép đối với mỗi chúng ta. Lòng trung thực là thước đo phẩm giá, còn dối trá là nấm mồ chôn vùi uy tín của một con người. Chúng ta cần kiên quyết lên án thói "nói dóc", thói sĩ diện hão như hai anh chàng trong truyện để giữ cho tâm hồn luôn trong sáng và góp phần xây dựng một cộng đồng sống bằng sự thật thay vì những ảo ảnh hão huyền.
Trong kho tàng truyện cười dân gian, tiếng cười thường được cất lên để thanh lọc tâm hồn và bài trừ cái xấu. Truyện "Nói dóc gặp nhau" là một bản cáo trạng đanh thép, phê phán nặng nề những kẻ sống thiếu trung thực, luôn dùng những lời lẽ hợm hĩnh để tự đánh bóng bản thân. Qua hình ảnh hai anh chàng "đấu khẩu" bằng những điều viễn vông, ta thấy rõ sự thối nát của thói dối trá và ý nghĩa sống còn của lòng trung thực trong đời sống con người. Trước hết, thói dối trá là một căn bệnh tinh thần biến con người trở nên lố bịch và đánh mất đi sự tôn trọng tối thiểu từ cộng đồng. Hãy nhìn vào anh chàng đi làm ăn xa về: thay vì chia sẻ những kinh nghiệm thực tế, anh ta lại huênh hoang kể về một chiếc ghe dài đến mức người ta đi từ lúc trẻ đến khi "râu tóc bạc phơ" vẫn chưa tới lái. Đây là kiểu người hám danh hão, sẵn sàng "quăng lựu đạn" bằng những con số phi lý để mong nhận được sự trầm trồ, kính nể của bà con lối xóm. Lời nói dối này không chỉ thể hiện sự dốt nát về kiến thức thực tế mà còn là một sự xúc phạm nặng nề đến trí tuệ của người nghe. Thế nhưng, "vỏ quýt dày có móng tay nhọn", anh chàng ở nhà cũng không kém phần gian dối khi bịa ra câu chuyện cây đa cao đến mức "bảy đời" hạt mới rơi tới đất. Cuộc đối đầu này thực chất là một sự mỉa mai cay nghiệt: khi những kẻ dối trá gặp nhau, họ không tạo ra bất cứ giá trị nào cho xã hội mà chỉ tạo ra một đống rác rưởi của ngôn từ. Câu trả lời "lấy gỗ đóng chiếc ghe của anh" như một cú tát trực diện vào thói khoe khoang, cho thấy kẻ nói dối sẽ sớm muộn bị chính những lời lẽ của mình bẫy chết trong sự nhục nhã. Ngược lại với thói nói dóc chính là lòng trung thực – kim chỉ nam cho một nhân cách cao thượng. Người trung thực không cần những chiếc ghe khổng lồ hay cây đa xuyên tầng mây để khẳng định mình; họ khẳng định giá trị qua sự chân thành và những việc làm thực chất. Trong khi thói dối trá chia rẽ con người và xây dựng niềm tin trên cát, thì lòng trung thực là chất keo gắn kết bền vững nhất. Xã hội sẽ ra sao nếu ai cũng học theo hai anh chàng kia, coi việc lừa lọc là tài năng và lấy sự giả tạo làm niềm tự hào? Đó chắc chắn sẽ là một xã hội suy đồi về đạo đức và tan rã về niềm tin. Tóm lại, truyện "Nói dóc gặp nhau" không chỉ để cười cho vui, mà là lời cảnh báo đanh thép đối với mỗi chúng ta. Lòng trung thực là thước đo phẩm giá, còn dối trá là nấm mồ chôn vùi uy tín của một con người. Chúng ta cần kiên quyết lên án thói "nói dóc", thói sĩ diện hão như hai anh chàng trong truyện để giữ cho tâm hồn luôn trong sáng và góp phần xây dựng một cộng đồng sống bằng sự thật thay vì những ảo ảnh hão huyền.
Trong kho tàng truyện cười dân gian, tiếng cười thường được cất lên để thanh lọc tâm hồn và bài trừ cái xấu. Truyện "Nói dóc gặp nhau" là một bản cáo trạng đanh thép, phê phán nặng nề những kẻ sống thiếu trung thực, luôn dùng những lời lẽ hợm hĩnh để tự đánh bóng bản thân. Qua hình ảnh hai anh chàng "đấu khẩu" bằng những điều viễn vông, ta thấy rõ sự thối nát của thói dối trá và ý nghĩa sống còn của lòng trung thực trong đời sống con người. Trước hết, thói dối trá là một căn bệnh tinh thần biến con người trở nên lố bịch và đánh mất đi sự tôn trọng tối thiểu từ cộng đồng. Hãy nhìn vào anh chàng đi làm ăn xa về: thay vì chia sẻ những kinh nghiệm thực tế, anh ta lại huênh hoang kể về một chiếc ghe dài đến mức người ta đi từ lúc trẻ đến khi "râu tóc bạc phơ" vẫn chưa tới lái. Đây là kiểu người hám danh hão, sẵn sàng "quăng lựu đạn" bằng những con số phi lý để mong nhận được sự trầm trồ, kính nể của bà con lối xóm. Lời nói dối này không chỉ thể hiện sự dốt nát về kiến thức thực tế mà còn là một sự xúc phạm nặng nề đến trí tuệ của người nghe. Thế nhưng, "vỏ quýt dày có móng tay nhọn", anh chàng ở nhà cũng không kém phần gian dối khi bịa ra câu chuyện cây đa cao đến mức "bảy đời" hạt mới rơi tới đất. Cuộc đối đầu này thực chất là một sự mỉa mai cay nghiệt: khi những kẻ dối trá gặp nhau, họ không tạo ra bất cứ giá trị nào cho xã hội mà chỉ tạo ra một đống rác rưởi của ngôn từ. Câu trả lời "lấy gỗ đóng chiếc ghe của anh" như một cú tát trực diện vào thói khoe khoang, cho thấy kẻ nói dối sẽ sớm muộn bị chính những lời lẽ của mình bẫy chết trong sự nhục nhã. Ngược lại với thói nói dóc chính là lòng trung thực – kim chỉ nam cho một nhân cách cao thượng. Người trung thực không cần những chiếc ghe khổng lồ hay cây đa xuyên tầng mây để khẳng định mình; họ khẳng định giá trị qua sự chân thành và những việc làm thực chất. Trong khi thói dối trá chia rẽ con người và xây dựng niềm tin trên cát, thì lòng trung thực là chất keo gắn kết bền vững nhất. Xã hội sẽ ra sao nếu ai cũng học theo hai anh chàng kia, coi việc lừa lọc là tài năng và lấy sự giả tạo làm niềm tự hào? Đó chắc chắn sẽ là một xã hội suy đồi về đạo đức và tan rã về niềm tin. Tóm lại, truyện "Nói dóc gặp nhau" không chỉ để cười cho vui, mà là lời cảnh báo đanh thép đối với mỗi chúng ta. Lòng trung thực là thước đo phẩm giá, còn dối trá là nấm mồ chôn vùi uy tín của một con người. Chúng ta cần kiên quyết lên án thói "nói dóc", thói sĩ diện hão như hai anh chàng trong truyện để giữ cho tâm hồn luôn trong sáng và góp phần xây dựng một cộng đồng sống bằng sự thật thay vì những ảo ảnh hão huyền .
Câu chuyện "Nói dóc gặp nhau" gửi gắm một thông điệp sâu sắc về việc phê phán thói khoe khoang và hợm hĩnh trong xã hội. Bằng cách lấy cái vô lý này để trị cái vô lý khác, truyện tạo ra tiếng cười sảng khoái đồng thời bóc trần sự lố bịch của những kẻ thích nói khoác. Qua đó, tác giả dân gian khuyên nhủ con người nên sống thực tế, khiêm tốn và tránh xa lối sống phô trương hão huyền. Tiếng cười trong truyện không chỉ để giải trí mà còn là bài học về sự tỉnh táo trước những lời lừa dối nực cười.
Tác giả dân gian qua câu truyện muốn cho người đọc thấy được những thói hư tật xấu đang len lỏi phát triển ở xã hội từ xưa và đang dần phát triển hơn trong xã hội hiện đại , muốn phê phán những con người bô hoa trích choè khoác loác những điều kì ảo không có thật để thoả mãi hư danh của bản thân.