Phạm Duy Long
Giới thiệu về bản thân
Bạn H (15 tuổi) thường xuyên bỏ học để tụ tập với nhóm bạn xấu. Một ngày nọ, H bị lôi kéo tham gia đua xe trái phép trên đường phố. Trong một lần đua xe, nhóm của H gây tai nạn, bị công an bắt giữ và lập biên bản xử lý vi phạm. Hành vi của H vi phạm pháp luật gì và phải chịu trách nhiệm pháp lý gì? Hành vi của H là vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ. 1. Hành vi vi phạm: H bỏ học, tụ tập với bạn xấu và tham gia đua xe trái phép trên đường phố. Đua xe trái phép là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm vì gây nguy hiểm cho bản thân và người khác. Trong trường hợp này, nhóm của H còn gây tai nạn giao thông, nên mức độ vi phạm nghiêm trọng hơn. 2. Trách nhiệm pháp lý của H: H mới 15 tuổi, nên chưa đủ 16 tuổi để chịu trách nhiệm hình sự đối với hầu hết các tội. Vì vậy, H có thể bị xử phạt hành chính như: cảnh cáo, phạt tiền (thường do gia đình hoặc người giám hộ thực hiện), tịch thu phương tiện hoặc giáo dục tại địa phương. Ngoài ra, nếu gây thiệt hại về người hoặc tài sản, gia đình H phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. 3. Kết luận: Hành vi của H là vi phạm pháp luật về an toàn giao thông và trật tự xã hội; H có thể bị xử phạt hành chính và bị giáo dục, đồng thời gia đình phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu gây thiệt hại.
Nếu là em, em sẽ khuyên An rằng bạn nên biết suy nghĩ và cân nhắc trước khi tiêu tiền. Số tiền thưởng học sinh giỏi là thành quả của sự cố gắng trong học tập, vì vậy nên ưu tiên dùng vào những việc có ích cho việc học, như mua sách tham khảo cho năm học mới đúng với kế hoạch ban đầu. Việc mua đôi giày vì thấy đang giảm giá chỉ mang lại niềm vui nhất thời, trong khi sách sẽ giúp An học tốt hơn và đạt kết quả cao hơn trong tương lai. Vì thế, An nên lập kế hoạch chi tiêu rõ ràng và cố gắng thực hiện đúng kế hoạch, tránh bị cuốn theo những thứ hấp dẫn trước mắt. Qua tình huống này, em cũng khuyên An rằng cần rèn luyện thói quen chi tiêu hợp lý và biết ưu tiên những điều quan trọng hơn.
Câu 1 : Bài làm
Trong "Má Hậu Giang" của Tố Hữu, nhân vật bà má hiện lên với vẻ đẹp cao cả của người phụ nữ Việt Nam trong thời chiến. Ban đầu, bà là hình ảnh bình dị, lam lũ của người mẹ già với "nồi cơm to" bên bếp lửa. Tuy nhiên, khi đối diện với kẻ thù xâm lược, bà bộc lộ phẩm chất anh hùng phi thường. Sự run rẩy ban đầu ("lẩy bẩy như tàu chuối khô") nhanh chóng nhường chỗ cho ý chí kiên cường, quyết tử bảo vệ cách mạng: "Má có chết, một mình má chết / Cho các con trừ hết quân Tây!". Ngay cả khi bị kẻ thù giày vò tàn bạo, bà vẫn hiên ngang nguyền rủa quân cướp và tự hào ngợi ca lòng gan dạ của con em mình ("Con tao, gan dạ anh hùng / Như rừng đước mạnh..."). Má Hậu Giang là biểu tượng của lòng yêu nước nồng nàn, sẵn sàng hy sinh thân mình vì nghĩa lớn, để lại ấn tượng sâu sắc về sự bất khuất và tình mẫu tử thiêng liêng gắn liền với Tổ quốc.
Câu 2: Bài làm
Hình tượng Má Hậu Giang trong bài thơ của Tố Hữu là một lời nhắc nhở sâu sắc về truyền thống yêu nước và tinh thần hy sinh cao cả của dân tộc. Từ sự kiên trung, bất khuất của người mẹ già, chúng ta nhận ra trách nhiệm lớn lao của thế hệ trẻ hiện nay đối với đất nước trong thời bình. Trách nhiệm đó không còn là cầm súng trực tiếp ra trận, mà được thể hiện qua việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc bằng tri thức, đạo đức và ý chí. Thế hệ trẻ là tương lai của đất nước, là lực lượng nòng cốt đưa Việt Nam tiến kịp các cường quốc năm châu. Nếu như Má Hậu Giang hy sinh để bảo vệ nền độc lập thì trách nhiệm của chúng ta là phải bảo vệ thành quả đó bằng cách không ngừng học tập, rèn luyện để làm chủ khoa học công nghệ, xây dựng nền kinh tế vững mạnh. Để thực hiện trách nhiệm này, thế hệ trẻ cần có những hành động cụ thể. Trước hết, mỗi người phải trau dồi đạo đức, lối sống lành mạnh, có tinh thần tự tôn dân tộc và bản lĩnh trước các luồng tư tưởng sai trái. Thứ hai, tích cực tham gia vào các hoạt động tình nguyện, bảo vệ môi trường, giữ gìn văn hóa truyền thống – những "rừng đước", "rừng chàm" tinh thần của dân tộc. Cuối cùng, chủ động hội nhập quốc tế nhưng phải luôn giữ vững lập trường và quảng bá hình ảnh Việt Nam tốt đẹp ra thế giới. Chỉ khi mỗi cá nhân nỗ lực "xây" và "bảo vệ" bằng trí tuệ và nhiệt huyết, đất nước mới thực sự phát triển bền vững, xứng đáng với sự hy sinh của các thế hệ đi trước như Má Hậu Giang.
Câu 1: văn bản trên thuộc thể loại thơ song thất lục bát
Sự việc xảy ra trong văn bản bà má hậu Giang là má đang nấu cơm có một thằng cướp mắt xanh mũi lõ ng đốc gươm dài vuốt vỏ tay uy hiếp mà nói mau khai ra du kích không thì chém đầu má già nhất quyết không chịu nói nơi các con trốn nên bị tên cướp giết
Câu 3: những hoạt động độc ác của tên giặc là hắn vươn cổ gương mi trơn mắt hai màu tao chém mất đầu thằng kia bống rộng gót giày đạp lên đầu má mẹ mày nói không lưỡi gươm kề lạnh toát kề hông . Em nhận xét về nhân vật này là một người tàn ác tàn bạo không có lòng thương cảm là một lũ giặc ác
Câu 4 : biện pháp tu từ được sử dụng ở hai câu trên là so sánh như dùng Đức mạnh như rừng tràm thơm . -Tác dụng của biện pháp tu từ này trên câu trên là nói về người con trai của má có lòng gan dạ dũng cảm như nước mạnh nhưng rừng tràm thơ
Gọi lên hình ảnh thiên nhiên Nam Bộ dùng đước rừng chàm quen thuộc gắn bó với cuộc kháng chiến qua đó khẳng định sức sống mãnh liệt bền bỉ kiên cường của con người nơi đây
- làm nổi bật hình ảnhđối tượng được so sánh
Câu 5: Hình tượng Má Hậu Giang là biểu tượng cao đẹp cho tinh thần yêu nước và lòng hy sinh vô bờ của nhân dân Việt Nam. Dù là một người phụ nữ già yếu, không cầm gươm, má vẫn thể hiện ý chí sắt đá, quyết không khuất phục trước kẻ thù tàn bạo. Tinh thần yêu nước ấy không chỉ nằm ở việc cầm súng chiến đấu mà còn ở sự che chở, bao bọc cho lực lượng kháng chiến bằng cả mạng sống của mình. Sự hy sinh thầm lặng nhưng vĩ đại của má cho thấy lòng yêu nước đã thấm sâu vào máu thịt, trở thành lẽ sống và là nguồn sức mạnh tinh thần vô tận giúp dân tộc vượt qua mọi thử thách để bảo vệ độc lập.
Chiến tranh, dù với bất kỳ lý do nào, cũng để lại những vết thương sâu sắc trong lòng dân tộc và trong từng con người. Ở Chinh phụ ngâm, người ra đi phải đối mặt với hiểm nguy, rét buốt, cái chết luôn cận kề nơi chiến địa; còn người ở lại phải chịu đựng nỗi cô đơn, chờ đợi vô vọng. Nỗi đau ấy không chỉ là sự chia ly của tình riêng mà còn là nỗi khổ chung của nhân sinh trong thời loạn ly. Hình ảnh “dạo hiên vắng thầm gieo từng bước”, “đèn có biết dường bằng chẳng biết” cho thấy tâm trạng cô độc đến tột cùng của người vợ trẻ – biểu tượng cho những số phận bị chiến tranh tước mất hạnh phúc. Qua đó, ta nhận ra chiến tranh không chỉ hủy hoại sinh mạng mà còn tàn phá cả tâm hồn và niềm tin yêu của con người.Câu 1: Bài Làm
Đoạn thơ là bức tranh tâm trạng lột tả sâu sắc hình ảnh người chinh phụ với nỗi nhớ chồng da diết và sự cô đơn thấm thía nơi hậu phương. Nhân vật được xây dựng qua chuỗi những hành động mang tính biểu tượng và cảm xúc chân thực, thể hiện nỗi khổ riêng tư của người phụ nữ trong cảnh loạn ly .Sự kiên trì được thể hiện qua việc nàng “trải mấy xuân tin đi tin lại”, minh chứng cho tấm lòng son sắt. Tuy nhiên, niềm hy vọng ấy lại mong manh như sợi chỉ khi “Tới xuân này tin hãy vắng không”.Nàng liên tục gợi nhớ các điển tích về lòng chung thủy và sự gửi gắm thư từ qua nhạn (Thư phong, Hồng tiện) và dệt gấm (Đề chữ gấm), cho thấy tâm trí luôn hướng về nơi chồng đang chiến đấu, nhưng mọi nỗ lực đều vô vọng Nàng không chỉ thương thân mình mà còn “Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa”, thể hiện lòng nhân hậu và sự đồng cảm sâu sắc với gian khổ nơi chiến trường .Cảm giác thẩn thẩn như không và ngẩn ngơ trước trời đêm cho thấy sự lạc lõng, trống vắng bao trùm.
Câu 2 : Trong Chinh phụ ngâm, hình ảnh người chinh phụ cô đơn nơi khuê phòng, ngày ngày mòn mỏi trông chồng trở về từ biên ải xa xôi, không chỉ là tiếng lòng của một người vợ mà còn là tiếng nói nhân đạo sâu sắc, tố cáo những mất mát, đau thương mà chiến tranh gây ra cho con người. Từ đó, ta càng thấu hiểu giá trị của hòa bình và nhận ra trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay trong việc trân trọng, gìn giữ cuộc sống yên bình mà cha ông đã đổi bằng máu xương.
ChatGPT Đăng nhập Bạn đã nói: Nàng không chỉ thương thân mình mà còn “Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa”, thể hiện lòng nhân hậu và sự đồng cảm sâu sắc với gian khổ nơi chiến trường (“màn mưa trướng tuyết xông pha”). Nỗi sầu muộn đã hằn sâu lên dung nhan và thể xác: “bơ phờ tóc mai”, thân hình gầy mòn (“xiêm thắt”). Sự tàn phai này là minh chứng vật chất cho sự tổn thương tinh thần kéo dài. Cảnh Ngộ Cô Độc Tột Cùng: Cảm giác thẩn thẩn như không và ngẩn ngơ trước trời đêm cho thấy sự lạc lõng, trống vắng bao trùm. Sự cô độc được nhấn mạnh qua hình ảnh hành động đơn phương: “Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước” và việc nàng ngồi đối diện với sự im lặng của không gian (“Ngoài rèm, thước chẳng mách tin”). Lời than “Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi” khép lại đoạn trích bằng sự bất lực và nỗi bi thương không thể sẻ chia.Đoạn thơ là bức tranh tâm trạng tuyệt mỹ, lột tả sâu sắc hình ảnh người chinh phụ với nỗi nhớ chồng da diết và sự cô đơn thấm thía nơi hậu phương. Nhân vật được xây dựng qua chuỗi những hành động mang tính biểu tượng và cảm xúc chân thực, thể hiện nỗi khổ riêng tư của người phụ nữ trong cảnh loạn ly. Nỗi Lòng Khắc Khoải và Sự Chờ Đợi Vô Vọng: Sự kiên trì được thể hiện qua việc nàng “trải mấy xuân tin đi tin lại”, minh chứng cho tấm lòng son sắt. Tuy nhiên, niềm hy vọng ấy lại mong manh như sợi chỉ khi “Tới xuân này tin hãy vắng không”. Nàng liên tục gợi nhớ các điển tích về lòng chung thủy và sự gửi gắm thư từ qua nhạn (Thư phong, Hồng tiện) và dệt gấm (Đề chữ gấm), cho thấy tâm trí luôn hướng về nơi chồng đang chiến đấu, nhưng mọi nỗ lực đều vô vọngTrải mấy xuân tin đi tin lại, Tới xuân này tin hãy vắng không. Thấy nhạn luống tưởng thư phong(1), Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng. Gió tây nổi khôn đường hồng tiện(2), Xót cõi ngoài tuyết quyến mưa sa. Màn mưa trướng tuyết(3) xông pha, Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài. Đề chữ gấm(4) phong thôi lại mở, Gieo bói tiền(5) tin dở còn ngờ, Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ, Trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai. Há như ai hồn say bóng lẫn, Bỗng thơ thơ thẩn thẩn như không. Trâm cài xiêm thắt(6) thẹn thùng, Lệch làn tóc rối lỏng vòng lưng eo. Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước Ngồi rèm thưa rủ thác(7) đòi phen. Ngoài rèm, thước chẳng mách tin, Trong rèm dường đã có đèn biết chăng. Đèn có biết dường bằng chẳng biết, Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi. (Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Chinh phụ ngâm, theo thivien.net) * Chú thích: (1) Thư phong: Lấy tích Tô Vũ xé áo lựa viết thư, cột vào chân chim nhạn thả bay về Hán. (2) Hồng tiện: Nhờ nhạn đem thư buộc ở chân. (3) Màn mưa trướng tuyết: Chỉ những nơi đóng quân ở cõi ngoài. (4) Chữ gấm: Đời Tấn, Đậu Thao đi lính, vợ là Tô Huệ làm bài thi "hồi văn" dệt vào gấm dâng lên vua mà xin cho chồng về. (5) Gieo bói tiền: Gieo ba đồng tiền bàng khi bói quẻ. (6) Xiêm thắt: Áo quần thắt nhỏ, ở đây ý nói người vợ vì nhớ chồng mà thân thể dần gầy mòn đi. (7) Rủ thác: Bỏ rèm xuống, cuốn lên. Câu 2. (4,0 điểm) Đọc Chinh phụ ngâm, ta bắt gặp hình ảnh người chinh phụ cô đơn, ngày ngày ngóng trông chồng quay về từ nơi biên ải xa xôi. Từ hoàn cảnh ấy, hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 400 − 600 chữ) bàn về những mất mát, đau thương do chiến tranh gây ra và nêu suy nghĩ của em về trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay trong việc trân trọng và giữ gìn cuộc sống hoà bình ChatGPT đã nói: Dưới đây là bài văn nghị luận mẫu (khoảng 500 chữ) trả lời cho đề bài mà bạn đưa ra: Bài làm Trong Chinh phụ ngâm, hình ảnh người chinh phụ cô đơn nơi khuê phòng, ngày ngày mòn mỏi trông chồng trở về từ biên ải xa xôi, không chỉ là tiếng lòng của một người vợ mà còn là tiếng nói nhân đạo sâu sắc, tố cáo những mất mát, đau thương mà chiến tranh gây ra cho con người. Từ đó, ta càng thấu hiểu giá trị của hòa bình và nhận ra trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay trong việc trân trọng, gìn giữ cuộc sống yên bình mà cha ông đã đổi bằng máu xương. Chiến tranh, dù với bất kỳ lý do nào, cũng để lại những vết thương sâu sắc trong lòng dân tộc và trong từng con người. Ở Chinh phụ ngâm, người ra đi phải đối mặt với hiểm nguy, rét buốt, cái chết luôn cận kề nơi chiến địa; còn người ở lại phải chịu đựng nỗi cô đơn, chờ đợi vô vọng. Nỗi đau ấy không chỉ là sự chia ly của tình riêng mà còn là nỗi khổ chung của nhân sinh trong thời loạn ly. Hình ảnh “dạo hiên vắng thầm gieo từng bước”, “đèn có biết dường bằng chẳng biết” cho thấy tâm trạng cô độc đến tột cùng của người vợ trẻ – biểu tượng cho những số phận bị chiến tranh tước mất hạnh phúc. Qua đó, ta nhận ra chiến tranh không chỉ hủy hoại sinh mạng mà còn tàn phá cả tâm hồn và niềm tin yêu của con người.
Ngày nay đất nước ta được sống trong hòa bình sau bao năm dài đạn lửa . Hòa Bình ấy là kết quả của biết bao hy sinh mất mát của thế hệ cha anh những người ngã xuống để bảo vệ từng tấc đất từng mái nhà vì vậy thế hệ trẻ hôm nay cần hiểu rằng hòa bình không phải là điều hiển nhiên mà là giá trị linh thiêng cần được trân trọng và giữ gìn mỗi người trẻ phải biết có trách nhiệm học tập rèn luyện góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh đồng thời lan tỏa tình yêu thương nhân ái phản đối bạo lực và chiến tranh dưới mọi hình thức giữ gìn hòa bình không chỉ là Bảo vệ Biên Cương tổ quốc mà còn là nuôi dưỡng lòng nhân hậu tôn trọng sự sống khá và khát vọng hòa hợp giữa người với con người
Tiếng lòng của người chinh phụ năm xưa ta thêm thấu hiểu giá trị cuộc sống hiện tại Hòa Bình là nền tảng của hạnh phúc là món quà vô giá mà mỗi thế hệ cần trân trọng bằng ý thức và hành động cụ thể thế hệ trẻ hôm nay phải là người kể tục xứng đáng trong hành trình giữ gìn bảo vệ và vun đắp cho một thế giới không có chiến tranh nơi con người được sống trọn vẹn trong yêu thương và bình yên
Câu 1. Văn bản này thuộc thể thơ song thất lục bát. Câu 2. Dòng thơ cho thấy sự mong mỏi, ngóng trông tin chồng là: "Trải mấy xuân tin đi tin lại, Tới xuân này tin hãy vắng không". Câu 3. Hành động: Người chinh phụ đã làm nhiều hành động thể hiện nỗi mong ngóng tin chồng như nhìn nhạn tưởng thư (thấy nhạn luống tưởng thư phong), chuẩn bị áo bông cho chồng nghe hơi sương... Nhận xét: Những hành động này cho thấy sự thường trực và khắc khoải trong mong ngóng tin chồng. Từ việc chuẩn bị cho đến việc làm các phép tượng trưng, tất cả đều cho thấy sự thụ động và tuyệt vọng, nhưng vẫn cố gắng tìm kiếm hy vọng dù nhỏ nhoi.
Câu 4 biện pháp tu từ nhân hoá
Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ" và "Trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai". Hình ảnh trời và trăng được nhân hóa, trở nên cô đơn, buồn bã như chính tâm trạng của người chinh phụ. Tác dụng: Các biện pháp tu từ này giúp khắc họa rõ nét tâm trạng cô đơn, buồn tủi và khắc khoải của người chinh phụ, đồng thời tạo ra không khí trầm lắng, suy tư cho bài thơ
Câu 5: Tâm trạng: Người chinh phụ thể hiện tâm trạng buồn bã, nhớ nhung, cô đơn, khắc khoải và lo lắng cho người chồng ở nơi chiến trường xa xôi.
Câu 1: văn bản trên thuộc thể loại thơ song thất lục bát
Câu 2: dòng thơ cho thấy sự mong mỏi ngóng trông tin chồng là "Trải mấy xuân tin đi tìm lại , Tới xuân này tin hãy vắng không"
Câu 3 : Người chinh phụ đã làm nhiều hành động thể hiện nỗi mong ngóng tin chồng như nhìn nhạn tưởng thư (thấy nhạn luống tưởng thư phong), chuẩn bị áo bông cho chồng nghe hơi sương (nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng), đề chữ gấm (đề chữ gấm phong thôi lại mở), và gieo bói tiền (gieo bói tiền tin dở còn ngờ). Nhận xét là : Những hành động này cho thấy sự thường trực và khắc khoải trong mong ngóng tin chồng. Từ việc chuẩn bị cho đến việc làm các phép tượng trưng, vẫn cố gắng tìm kiếm hy vọng dù nhỏ nhoi
Câu 4: biện pháp tự từ Em ấn tượng nhất là biện pháp tu từ nhân hoá
Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ" và "Trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai". Hình ảnh trời và trăng được nhân hóa, trở nên cô đơn, buồn bã như chính tâm trạng của người chinh phụ. Tác dụng: Các biện pháp tu từ này giúp khắc họa rõ nét tâm trạng cô đơn, buồn tủi và khắc khoải của người chinh phụ, đồng thời tạo ra không khí trầm lắng, suy tư cho bài thơ.
Câu 5: Tâm trạng: Người chinh phụ thể hiện tâm trạng buồn bã, nhớ nhung, cô đơn, khắc khoải và lo lắng cho người chồng ở nơi chiến trường.Qua đó, ta nhận thấy giá trị của cuộc sống hòa bình. Hòa bình giúp con người được sống trọn vẹn, được yêu , hạnh phúc và đoàn viên với người mình yêu. Cuộc sống trong chiến tranh mang đến nỗi đau, sự chia ly và mất mát, vì vậy, hòa bình là điều vô cùng quý giá.
Câu 2 Lòng tham là một trong những khuynh hướng tiêu cực cố hữu của bản tính con người, một ngọn lửa tham vọng không được kiểm soát có thể thiêu rụi cả nhân cách và gây ra những hậu quả khôn lường cho cá nhân và xã hội. Câu chuyện về nhân vật Lý Hữu Chi trong Chuyện Lý Tướng Quân là một lời cảnh tỉnh đanh thép về sự tàn phá của lòng tham vô độ. Từ một người làm ruộng, khi có được quyền lực và của cải, Lý Hữu Chi trở nên độc ác, tham lam, không biết điểm dừng, cuối cùng phải nhận sự trừng phạt đau đớn nơi Minh Ti, minh chứng cho quy luật nhân quả nghiệt ngã. Từ tấm gương ấy, chúng ta càng thấm thía tác hại của lòng tham và cần tìm kiếm những giải pháp hữu hiệu để loại bỏ thói xấu này.Tác hại khôn lường của lòng tham
Câu 1: văn bản trên thuộc thể loại truyện truyền Kì
Câu 2 : ngôi kể được sử dụng trong văn bản là Ngô thứ 3
Câu 3: Nhân vật chính trong văn bản trên là Nguyễn Hữu Chi . Là một người có bản tính dữ tợn nhưng có sức khỏe giỏi đánh trận
Câu 4 : "Nửa đêm hôm đó, Thúc Khoản được đón xuống dưới Minh Ti, chứng kiến cảnh xét tội của các linh hồn". Tác dụng giúp thúc quảng biết được sự trả giá khi những người sống làm việc ác nên bị trừng phạt
Câu 5: bài làm
Qua văn bản trên em rút ra được nhiều bài học quý giá của bản thân. Về ý nghĩa của những việc làm khi họ còn sống tốt thì được đi đầu thai vào nhà giàu còn xấu thì phải ngâm chảo dầu . Bài học rút ra là chúng ta sống phải biết cho đi và làm nhiều việc tốt