Dương Việt Anh
Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
Văn bản trên thuộc thể loại truyền kì (truyện kì ảo, kết hợp giữa yếu tố thực và yếu tố hoang đường).
Câu 2.
Văn bản được kể theo ngôi thứ ba, người kể giấu mình, kể lại toàn bộ câu chuyện.
Câu 3.
Nhân vật chính là Lý Hữu Chi (Lý tướng quân).
→ Ông được mô tả là người có sức khỏe, giỏi chiến đấu nhưng tính tình hung bạo, tham lam, tàn ác, kiêu ngạo, coi thường người khác và sa vào dục vọng.
Câu 4.
Chi tiết hoang đường: Ông thầy tướng đưa chùm hạt châu hiện ra cảnh địa ngục, hoặc cảnh Thúc Khoản xuống âm phủ thấy cha bị trừng phạt.
→ Tác dụng: Làm tăng tính kì ảo cho truyện, thể hiện quan niệm “thiện ác hữu báo”, nhấn mạnh sự công bằng của đạo trời và tính giáo dục sâu sắc.
Câu 5.
Ý nghĩa: Truyện phê phán những kẻ cậy quyền thế, làm điều tàn ác, sống trái đạo lý; đồng thời khẳng định quy luật nhân quả, thiện ác báo ứng không sai.
Bài học: Con người cần sống nhân hậu, khiêm nhường, làm điều thiện, tránh tham lam và độc ác để không phải gánh chịu hậu quả đau khổ về sau.
âu 1.
Văn bản “Bà má Hậu Giang” được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2.
Sự việc xảy ra trong bài thơ là: Một tên lính Pháp xông vào túp lều của bà má Hậu Giang, tra hỏi nơi ẩn náu của du kích. Dù bị đe dọa, đánh đập, bà má vẫn kiên cường không khai, thể hiện lòng trung thành và tinh thần yêu nước mạnh mẽ.
Câu 3.
- Hành động độc ác của tên giặc: đạp đổ liếp mành, rút gươm đe dọa, tra khảo, giậm gót giày lên đầu bà má, kề gươm vào hông bà.
- Nhận xét: Hắn là kẻ tàn bạo, vô nhân tính, hiện thân cho bọn xâm lược hung ác và dã man.
Câu 4.
- Biện pháp tu từ: So sánh.
- Tác dụng: Hình ảnh “rừng đước mạnh, rừng chàm thơm” gợi lên sức sống bền bỉ, kiên cường và phẩm chất cao đẹp của những người con Nam Bộ — vừa mạnh mẽ, gan dạ, vừa giàu tình nghĩa, hiền hậu như hương rừng quê hương.
Câu 5.
Qua hình tượng bà má Hậu Giang, em cảm nhận sâu sắc tinh thần yêu nước, lòng căm thù giặc và ý chí kiên cường bất khuất của nhân dân ta. Dù là người dân lao động bình thường, bà má vẫn sẵn sàng hy sinh để bảo vệ Tổ quốc và che chở cho cách mạng. Hình ảnh ấy thể hiện sức mạnh vĩ đại của lòng dân trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho đất nước.
Câu 1.
Thể thơ của văn bản là song thất lục bát.
Câu 2.
Dòng thơ thể hiện sự mong mỏi, ngóng trông tin chồng là:
“Trải mấy xuân tin đi tin lại,
Tới xuân này tin hãy vắng không.”
Câu 3.
Nghĩ về người chồng nơi xa, người chinh phụ dạo hiên vắng, ngồi rèm thưa, ngóng trông chim thước, trông đèn, gieo bói tiền, thêu gấm gửi tin…
→ Những hành động ấy thể hiện nỗi nhớ thương, khắc khoải, cô đơn và niềm mong chờ vô vọng của người vợ chung thủy.
Câu 4.
Biện pháp tu từ nhân hoá trong câu:
“Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.”
→ “Đèn” được nhân hoá như một người bạn tâm tình, qua đó làm nổi bật nỗi cô đơn, tủi hờn của người chinh phụ khi không có ai chia sẻ nỗi lòng.
Câu 5.
Người chinh phụ thể hiện nỗi cô đơn, buồn tủi, nhớ thương và mong ngóng người chồng nơi chiến trường.
→ Qua tâm trạng ấy, em thấy cuộc sống hòa bình hôm nay thật quý giá. Chúng ta cần trân trọng, biết ơn những người đã hy sinh vì đất nước và giữ gìn hạnh phúc, bình yên hiện tại.
Thời gian ca nô đi xuôi dòng là \(2\) giờ \(30\) phút \(= 2 , 5\) giờ.
Gọi vận tốc của ca nô khi nước yên lặng là \(v\) (km/h), có \(v \leq 40\).
Vận tốc dòng nước là \(6\) km/h nên vận tốc ca nô khi xuôi dòng là \(v + 6\) (km/h).
Theo công thức tính quãng đường:
ta có:
\(S = \left(\right. v + 6 \left.\right) \times 2 , 5\)Vì \(v \leq 40\) nên:
\(S \leq \left(\right. 40 + 6 \left.\right) \times 2 , 5 = 46 \times 2 , 5 = 115.\)Vậy quãng đường ca nô đi được trong 2 giờ 30 phút không vượt quá 115 km.