LÝ THANH PHƯƠNG
Giới thiệu về bản thân
Phân tích những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong đoạn trích “Chinh phụ ngâm”
Đoạn trích trên nằm trong Chinh phụ ngâm, tác phẩm nổi tiếng của Đặng Trần Côn, do Đoàn Thị Điểm dịch ra chữ Nôm. Tác phẩm thể hiện nỗi lòng người chinh phụ – người vợ có chồng ra trận – với nỗi cô đơn, thương nhớ và khắc khoải khi phải sống trong cảnh chia ly. Đoạn trích là một bức tranh tâm trạng đặc sắc, miêu tả sâu sắc bi kịch của người phụ nữ trong chiến tranh phong kiến.
Mở đầu đoạn thơ, hình ảnh người chinh phụ hiện lên trong không gian tĩnh mịch:
“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”
Những bước đi “thầm gieo”, “hiên vắng”, “rèm thưa” gợi cảm giác cô quạnh, trống trải. Từng động tác đều chậm rãi, lặp lại, cho thấy nỗi nhớ mong khắc khoải đang giày vò tâm hồn người vợ cô đơn.
Nỗi cô đơn ấy càng thấm thía hơn khi nàng hướng ra ngoài:
“Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?”
Con chim thước – biểu tượng của tin vui – vẫn bặt vô âm tín. Nàng quay vào trong, chỉ còn ngọn đèn khuya làm bạn. Câu hỏi tu từ “đèn có biết chăng?” vừa thể hiện khát vọng được sẻ chia, vừa nói lên nỗi cô độc tuyệt đối – đến mức người chinh phụ phải tìm sự đồng cảm nơi vật vô tri.
Đoạn tiếp, giọng thơ trầm buồn hơn:
“Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.”
Nỗi buồn của nàng không thể nói ra cùng ai. Tác giả đã dùng nghệ thuật đối lập “đèn có biết – chẳng biết” để khắc họa cảm xúc bị dồn nén, lặng lẽ mà sâu sắc.
Khi “gà eo óc gáy sương năm trống”, “hoè phất phơ rủ bóng bốn bên”, thời gian trôi chậm chạp, cảnh vật buồn tẻ như cùng đồng cảm với tâm trạng con người. Các từ láy “eo óc”, “phất phơ”, “đằng đẳng”, “dằng dặc” làm nổi bật dòng thời gian lê thê, vô tận, gợi nỗi nhớ chồng da diết, mòn mỏi.
Ba câu cuối là sự bế tắc cùng cực của tâm trạng:
“Hương gượng đốt hồn đà mê mải,
Gương gượng soi lệ lại châu chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.”
Điệp từ “gượng” xuất hiện ba lần diễn tả trạng thái gắng gượng sống trong nỗi cô đơn tuyệt vọng. Mọi hành động – đốt hương, soi gương, gảy đàn – đều không còn ý nghĩa, chỉ là những cử chỉ vô thức của một tâm hồn rã rời. Hình ảnh “dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng” là một ẩn dụ tuyệt đẹp, biểu tượng cho sợi dây tình duyên đang bị chia lìa, tan vỡ.
Nghệ thuật của đoạn trích thể hiện ở ngôn ngữ giàu nhạc điệu, hình ảnh ước lệ mà tinh tế, cùng nghệ thuật miêu tả nội tâm sâu sắc. Dịch giả Đoàn Thị Điểm đã sử dụng thể song thất lục bát một cách nhuần nhị, khiến nhịp thơ trầm buồn, kéo dài, phù hợp với tâm trạng nhân vật.
Tóm lại, đoạn trích là một trong những khúc ngâm hay nhất của Chinh phụ ngâm, thể hiện tài năng miêu tả tâm lý tinh tế của tác giả và tấm lòng nhân đạo sâu sắc. Qua nỗi cô đơn, nhớ thương của người chinh phụ, tác phẩm gửi gắm tiếng nói cảm thương cho thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến và khát vọng về hạnh phúc, tình yêu lứa đôi.
- Chúng ta là con người trần thế dù có được sống nơi tiên cảnh cũng không thoát được nỗi nhớ quê hương
Lí giải:Con người sinh ra, lớn lên đều gắn bó với quê hương – nơi chôn nhau cắt rốn, chứa đựng biết bao kỷ niệm, tình thân và cội nguồn của mình. Dù có đi xa, sống trong cảnh sung sướng, đẹp đẽ như “tiên cảnh” – tượng trưng cho hạnh phúc, vinh hoa, cuộc sống đầy đủ – thì trong sâu thẳm tâm hồn, nỗi nhớ quê hương vẫn luôn hiện hữu. Bởi lẽ, quê hương không chỉ là nơi chốn, mà còn là một phần máu thịt, là cội nguồn của mỗi người.
Thông điệp khẳng định: tình yêu và nỗi nhớ quê hương là bản chất tự nhiên, thiêng liêng của con người, không gì có thể thay thế hay xóa nhòa được, dù trong hoàn cảnh nào.
Lựa chọn của Từ Thức ở cuối đoạn trích: Chọn vào núi, xa rời cuộc sống trần gian.
- Lí giải: Từ Thức trở nên lạc lõng bơ vơ khi chàng không còn thuộc về chốn thần tiên cũng không còn hợp với cõi nhân gian. Chính vì vậy ra đi là cách tốt nhất cho chàng.
Lựa chọn của Từ Thức ở cuối đoạn trích: Chọn vào núi, xa rời cuộc sống trần gian.
- Lí giải: Từ Thức trở nên lạc lõng bơ vơ khi chàng không còn thuộc về chốn thần tiên cũng không còn hợp với cõi nhân gian. Chính vì vậy ra đi là cách tốt nhất cho chàng.
a. Các bộ phận của vùng biển Việt Nam:
-Nội thủy là vùng biển tiếp giáp với đường bờ biển,ở phía trong đường cơ sở và là bộ phận lãnh thổ của Việt Nam.
-Lãnh hải là vùng biển có chiều rộng 12 hải lí tính từ đường cơ sở ra biển.Ranh giới ngoàicủa lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển Việt Nam.
-Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển tiếp liền và naừm ngoài lãnh hải Việt Nam 12 hải lí tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải.
-Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam,hợp với lãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lí tính từ đường cơ sở.
-Thềm lục điạ Việt Nam là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển,tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam,trên toàn bộ phần keo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền,các đảo và quần đảo của Việt Nam cho đến mép ngoài của rìa lục địa.
b.Phát triển kinh tế có ý nghĩa:
-Đối với nền kinh tế :
-hoạt động kinh tế biển rất đa dạng:đánh bắt,nuôi trồng và chế biến hải sản,khai thác khoáng sản biển-đảo,giao thông vận tải,du lịch biển-đảo.Chỉ có khai thác tổng hợp mới có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao và bảo vệ môi trường.
+Thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác như:công nghiệp,thương mại.
+đẩy mạnh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế,cấu trúc lại cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ.
+Thu hút đầu tư nươc ngoài tăng tiềm lực phát triển kinh tế
+Tăng nguồn thu ngoại tệ để thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
+Đối với việc bảo vệ an ninh quốc phòng:
+Khẳng định chủ quyền lãnh thổ biển- đảo nước ta
+Có điều kiện bảo vệ anh ninh quốc phòng biển- đảo tốt hơn.