Nguyễn Trần Minh Châu

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Trần Minh Châu
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1: ngôi kể của văn bản là ngôi kể thứ ba

Câu 2: Truyện kể về ông già mù và cháu trai Tâm sống tựa vào vườn mai quỹ ở Huế, nơi ông dùng đôi tay "thần kỳ" chăm sóc từng nụ mai, hiểu được sự sống bên trong để bán vào dịp Tết. Sau khi con gái ông (mẹ Mai) bỏ đi theo một người giàu có, ông càng gắn bó với cháu và vườn mai, xem chúng như máu thịt, và quyết định đưa Mai ra vỉa hè bán, dù lòng đau đớn vì nỗi đời, nhưng vẫn cố giữ nụ cười, bán đi những cành mai rực rỡ, mang vẻ đẹp của mùa xuân và tình yêu thương đến mọi người.

Câu 3: Nhân vật ông già Mai trong "Người bán mai vàng" là một người cha, người ông giàu tình thương, tận tụy, hy sinh vì con cháu, có tình yêu sâu sắc với cây mai, luôn đề cao lòng nhân ái​, thể hiện sự kiên nhẫn và tinh thần lạc quan, chấp nhận thay đổi để con cháu có tương lai tốt đẹp hơn, mặc dù rất buồn khi phải chặt mai nhưng vẫn vui vẻ khi thấy sự phát triển của con.

Câu 4: Trong văn bản "Người bán mai vàng", em thích nhất chi tiết tình yêu thương, sự hi sinh của người cha già (ông Mai) dành cho con, thể hiện qua việc đồng ý chặt bớt vườn mai quý giá để con có vốn làm ăn, hoặc chi tiết hai chị em chuẩn bị thiệp, thể hiện tình cảm gia đình ấm áp; dù mỗi người thích một chi tiết khác nhau, nhưng đều nhấn mạnh tình yêu thương và giá trị nhân văn sâu sắc của câu chuyện.

Câu 5: Trong tác phẩm "Người bán mai vàng", tình cảm gia đình là động lực mạnh mẽ, định hình nhân cách và hành động của nhân vật Mai, giúp em vượt qua khó khăn, giữ vững lòng nhân ái và trở thành người con hiếu thảo, giàu tình thương, qua đó thể hiện ý nghĩa sâu sắc về sự hy sinh, tình yêu thương và đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.

Câu 1: ngôi kể của văn bản là ngôi kể thứ ba

Câu 2: Truyện kể về ông già mù và cháu trai Tâm sống tựa vào vườn mai quỹ ở Huế, nơi ông dùng đôi tay "thần kỳ" chăm sóc từng nụ mai, hiểu được sự sống bên trong để bán vào dịp Tết. Sau khi con gái ông (mẹ Mai) bỏ đi theo một người giàu có, ông càng gắn bó với cháu và vườn mai, xem chúng như máu thịt, và quyết định đưa Mai ra vỉa hè bán, dù lòng đau đớn vì nỗi đời, nhưng vẫn cố giữ nụ cười, bán đi những cành mai rực rỡ, mang vẻ đẹp của mùa xuân và tình yêu thương đến mọi người.

Câu 3: Nhân vật ông già Mai trong "Người bán mai vàng" là một người cha, người ông giàu tình thương, tận tụy, hy sinh vì con cháu, có tình yêu sâu sắc với cây mai, luôn đề cao lòng nhân ái​, thể hiện sự kiên nhẫn và tinh thần lạc quan, chấp nhận thay đổi để con cháu có tương lai tốt đẹp hơn, mặc dù rất buồn khi phải chặt mai nhưng vẫn vui vẻ khi thấy sự phát triển của con.

Câu 4: Trong văn bản "Người bán mai vàng", em thích nhất chi tiết tình yêu thương, sự hi sinh của người cha già (ông Mai) dành cho con, thể hiện qua việc đồng ý chặt bớt vườn mai quý giá để con có vốn làm ăn, hoặc chi tiết hai chị em chuẩn bị thiệp, thể hiện tình cảm gia đình ấm áp; dù mỗi người thích một chi tiết khác nhau, nhưng đều nhấn mạnh tình yêu thương và giá trị nhân văn sâu sắc của câu chuyện.

Câu 5: Trong tác phẩm "Người bán mai vàng", tình cảm gia đình là động lực mạnh mẽ, định hình nhân cách và hành động của nhân vật Mai, giúp em vượt qua khó khăn, giữ vững lòng nhân ái và trở thành người con hiếu thảo, giàu tình thương, qua đó thể hiện ý nghĩa sâu sắc về sự hy sinh, tình yêu thương và đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.

Nguyễn Khuyến đã có một thời gian dài gắn bó với chốn quan trường, phục vụ cho dân cho nước. Song ông sớm từ bỏ chốn danh lợi thị phi do bất mãn với chính quyền để về quê ở ẩn. Với tư cách là một người trong cuộc ông thấu hiểu với nỗi vất vả, khốn khó của người dân dưới ách áp bức của thực dân phong kiến. Bài thơ Chốn quê được sáng tác với cảm hứng như thế. Toàn bài thơ là nỗi lòng của ông về cuộc sống khốn khổ trăm đường của nhân dân, ông thương cảm, xót xa cho những cảnh bất hạnh quần quật quanh năm mà đói nghèo vẫn đeo bám.

Thật ra đề tài về cuộc sống khốn khó của người nông dân trước cách mạng tháng tám không hiếm. Phải nói rất nhiều, những tác phẩm truyện ngắn hiện thực của Nguyễn Công Hoan, Phạm Duy Tốn, những bài thơ của nhiều tác giả khác cùng thời với Nguyễn Khuyến đều đã phản ánh rất nhiều. Song đến với bài thơ Chốn quê của Nguyễn Khuyến chúng ta thấy một màu sắc rất riêng. Ông khai thác trên nền đề tài vốn đã cũ để thổi vào đó luồng gió mới. Cũng là cảnh khổ, cái đói nghèo, cái sự khốn cùng của nhân dân nhưng lại được Nguyễn Khuyến diễn tả một cách nhẹ nhàng, thấm thía. Với những thi liệu rất gần gũi, quen thuộc bài thơ đã mở ra một không khí của chốn làng quê, tuy đói nghèo nhưng vẫn không túng quẫn. Đó là cái nhìn trân trọng của nhà thơ với số phận của những người nông dân trước cách mạng: Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua, Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa. Phần thuế quan Tây, phần trả nợ, Nửa công đứa ở, nửa thuê bò. Những câu thơ như là ông đang nói hộ nỗi niềm của những người nông dân nghèo khổ trong xã hội. Họ như đang ngồi lại với nhau để bộc bạch sự khốn khó của mình. Đó là những cảnh nghèo vất vả trong nhiều năm, bán mặt cho đất bán lưng cho trời vẫn chẳng ăn thua nghĩa là công cốc, chả bỏ ra được gì. Bởi đâu do như vậy? Chẳng phải do người lao động không cố gắng mà vì rất nhiều lý do chủ quan và khách quan khác. Thứ nhất là do mùa màng thất bát, thời tiết không ủng hộ. Thứ hai là do thuế sưu quá nặng, thuế để nộp quan tây, thuế để nộp địa chủ. Thứ ba là công thuê mướn người làm nửa công cho đứa ở, nửa công thuê bò làm ruộng… thành thử trừ tất cả đi người nông dân chẳng còn lại là bao. Cả một mùa vất vả một nắng hai sương ngoài ruộng đồng, thứ họ nhận lại được chẳng đáng với công sức đã bỏ ra. Phép đối và liệt kê đã được sử dụng rất chuẩn chỉnh thể hiện những khó khăn chồng chất khó khăn của người lao động. Đồng thời cũng thể hiện thái độ trân trọng, cảm thông của nhà thơ với những lo toan của người nông dân. Sớm trưa dưa muối cho qua bữa, Chợ búa trầu chè chẳng dám mua. Cần kiệm thế mà không khá nhỉ, Bao giờ cho biết khỏi đường lo?

Bốn câu thơ cuối là tiếng thở dài của người lao động. Vì cuộc sống vất vả, khốn khó nên họ đã tằn tiện tiết kiệm từng đồng hào. Bữa ăn đạm bạc chẳng có gì “sớm trưa dưa muối” để cho qua bữa, những thú vui giản dị như trầu chè cũng chẳng dám mua. Mọi thứ đã tiết kiệm hết mức có thể ấy thế mà đời sống vẫn chẳng thay đổi, chẳng khấm khá hơn được. Câu thơ cuối khép lại bài thơ bằng một câu hỏi tu từ “Bao giờ cho biết khỏi đường lo?” đầy tâm trạng của người lao động. Bao giờ cho hết đường lo đây, nếu xã hội vẫn bất công, chế độ thực dân phong kiến vẫn đàn áp như bây giờ thì đời sống của người nông dân sẽ chẳng bao giờ tốt hơn được. Bài thơ miêu tả cảnh sống khốn khó của người nông dân bằng ngòi bút chân thực. Nhà thơ như sống cùng với họ, thấu hiểu tâm trạng và nỗi niềm của họ, nói thay nỗi lòng của họ bằng một giọng thơ ngậm ngùi, chua xót. Qua đó chúng ta cũng hiểu thêm về con người Nguyễn Khuyến, một nhà thơ của làng quê Việt Nam, luôn sống và thấu hiểu người dân bằng tất cả tấm lòng của mình.

Câu 1: Tự sự

Câu 2: Thứ nhất

Câu 3: Thuộc chủ đề tình yêu tuổi mới lớn

Câu 4: Bí đỏ là từ ngữ toàn dân tương ứng

Câu 5: Tình cảm của nhân vật "tôi" đối với mẹ là một tình cảm sâu sắc và đầy hi sinh. Dù không biết cách thể hiện nỗi buồn hay an ủi mẹ khi thấy mẹ buồn, nhưng nhân vật "tôi" lại luôn sẵn sàng làm những điều nhỏ nhặt để mẹ vui. Hành động "nín thở nuốt trọn 1 tô canh bí đỏ" chính là biểu hiện của tình yêu thương thầm lặng mà "tôi" dành cho mẹ. Dù chỉ là một việc làm nhỏ, nhưng qua đó, nhân vật "tôi" thể hiện sự chăm sóc, sự hy sinh và mong muốn làm cho mẹ vui, dù trong lòng không thể không cảm thấy buồn. Việc làm này cho thấy "tôi" không chỉ yêu mẹ mà còn thấu hiểu và cảm nhận được nỗi buồn của mẹ, và "tôi" luôn muốn làm tất cả để mẹ cảm thấy hạnh phúc, dù đôi khi không thể diễn đạt ra thành lời.

Câu 6:

Trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, thường tồn tại một "sợi dây vô hình" tạo ra sự xung đột giữa các thế hệ. Con thường tức giận vì cha mẹ không hiểu mình, không đồng cảm với tâm trạng và suy nghĩ của mình. Tuy nhiên, điều quan trọng là chúng ta cũng cần phải thấu hiểu và lắng nghe cha mẹ của mình.