Bùi Duy Đức

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Bùi Duy Đức
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1.
Văn bản được kể theo ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mình, gọi nhân vật bằng “ông già Mai”, “Mai”, “Lan”…).

Câu 2.
Văn bản kể về hai cha con ông già mù sống nghèo khó nhưng gắn bó với vườn mai vàng cổ ở chân núi Ngũ Tây. Ông già Mai yêu mai bằng tất cả cảm nhận và tâm hồn, coi mai như máu thịt. Mai lớn lên, cưu mang Lan – cô bé ăn xin mồ côi mẹ – rồi nên duyên vợ chồng. Gia đình họ trải qua nhiều năm thiên tai, nghèo túng, vườn mai mất mùa liên tiếp. Trước khó khăn, Mai nhận ra không thể sống chỉ nhờ mai vàng. Cuối cùng, ông già Mai chấp nhận cho cưa nửa vườn mai để con có vốn làm ăn, dù đau đớn tận cùng.

Câu 3.
Ông già Mai là người yêu nghề, yêu thiên nhiên sâu sắc, có tâm hồn tinh tế và giàu cảm xúc. Ông sống nhân hậu, giàu đức hi sinh, luôn nghĩ cho con cháu. Dù đau xót khi phải cắt mai, ông vẫn chấp nhận vì hạnh phúc và tương lai của con.

Câu 4.
Em thích nhất chi tiết ông già Mai lặng lẽ dắt cháu đi xa để không nghe tiếng cưa cắt mai. Vì chi tiết ấy thể hiện nỗi đau âm thầm, sâu sắc của người gắn cả đời với vườn mai, đồng thời cho thấy sự hi sinh lặng lẽ của người cha vì con cháu.

Câu 5.
Tình cảm gia đình là động lực và điểm tựa tinh thần lớn nhất đối với nhân vật Mai. Nhờ tình yêu thương của cha, vợ và con, Mai có trách nhiệm hơn, dám suy nghĩ, dám thay đổi để vượt qua nghèo khó và tìm con đường sống mới cho gia đình.

Câu 1

Bài làm

Nhân vật Mai trong đoạn trích Người bán mai vàng là hình ảnh tiêu biểu cho người lao động nghèo nhưng giàu tình yêu thương và khát vọng sống tốt đẹp. Mai lớn lên trong sự gắn bó với vườn mai vàng và chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tấm gương nhân hậu của người cha mù lòa. Anh là người giàu lòng trắc ẩn khi cưu mang Lan – một cô bé ăn xin bất hạnh – rồi cùng cô xây dựng mái ấm gia đình. Dù cuộc sống nghèo khó, thiên tai liên tiếp xảy ra, Mai vẫn kiên trì, không đầu hàng số phận. Anh trăn trở, suy nghĩ về con đường mưu sinh mới, dám nhìn thẳng vào thực tế để thay đổi. Đặc biệt, Mai là người con hiếu thảo, luôn thương cha và không ngừng nỗ lực vì hạnh phúc gia đình. Qua nhân vật Mai, tác giả ca ngợi vẻ đẹp của tình thân, sự chịu thương chịu khó và khát vọng vươn lên trong cuộc sống.

Câu 2

Bài làm

Trong xã hội hiện đại, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội, một bộ phận giới trẻ đang hình thành lối sống thích khoe khoang, phô trương “ảo” những thứ không thực sự thuộc về mình. Đây là một hiện tượng đáng lo ngại, cần được nhìn nhận và phê phán một cách nghiêm túc.

Trước hết, lối sống khoe khoang, phô trương “ảo” có thể hiểu là việc một số bạn trẻ cố tình xây dựng hình ảnh hào nhoáng trên mạng xã hội bằng cách đăng tải những thông tin, hình ảnh về cuộc sống giàu sang, thành đạt, đẳng cấp… dù thực tế không đúng như vậy. Họ có thể mượn đồ hiệu để chụp ảnh, “check-in” ở những nơi sang trọng không phải do mình chi trả, hoặc thậm chí bịa đặt thành tích, mối quan hệ để gây chú ý. Mục đích của hành vi này thường là để được ngưỡng mộ, công nhận và khẳng định giá trị bản thân trong mắt người khác.

Nguyên nhân của hiện tượng trên xuất phát từ nhiều phía. Một phần là do tâm lý sính hình thức, thích được khen ngợi, so sánh bản thân với người khác. Bên cạnh đó, tác động tiêu cực của mạng xã hội khiến nhiều bạn trẻ nhầm tưởng rằng giá trị con người được đo bằng lượt thích, lượt theo dõi. Ngoài ra, sự thiếu định hướng từ gia đình và nhà trường cũng góp phần khiến giới trẻ dễ chạy theo những giá trị ảo, hào nhoáng bên ngoài.

Lối sống khoe khoang “ảo” để lại nhiều hệ quả đáng buồn. Nó khiến con người sống không thật với chính mình, dễ rơi vào tâm lý mệt mỏi, áp lực vì phải duy trì một hình ảnh giả tạo. Về lâu dài, điều này làm mai một những giá trị tốt đẹp như sự trung thực, khiêm tốn và nỗ lực chân chính. Không chỉ vậy, thói quen này còn gây ảnh hưởng xấu đến xã hội khi lan truyền những chuẩn mực lệch lạc về thành công và hạnh phúc.

Trước thực trạng đó, mỗi bạn trẻ cần tự nhìn nhận lại bản thân, học cách sống chân thành, biết trân trọng giá trị thật của mình. Gia đình, nhà trường và xã hội cũng cần định hướng đúng đắn, giúp giới trẻ hiểu rằng giá trị con người không nằm ở sự phô trương bên ngoài mà ở nhân cách, tri thức và sự cố gắng không ngừng. Chỉ khi sống thật, sống có trách nhiệm, con người mới có thể tìm thấy hạnh phúc bền vững.

Câu 1 : phương thức biểu đạt chính là tự sự

Câu 2 : ngôi thứ nhất

Câu 3 : Chủ đề trích đoạn "Hạ đỏ" củaNguyễn Nhật Ánh là tình cảm tuổi học trò, sự thay đổi của những cảm xúc xúc động, và những kỷ niệm trong những ngày cuối cùng của tuổi học trò . 

Câu 4 : từ ngữ địa phương là : đậu phộng  , từ ngữ toàn dân là : bí đỏ

Câu 5 : Em thấy nhân vật tôi là người rất yêu thương mẹ hiểu được cảm xúc người khác và là một cậu bé rất hiểu chuyện.

Câu 6 : Tình cảm gia đình là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong cuộc sống mỗi con người. Nó không chỉ là nguồn động viên tinh thần mà còn là chỗ dựa vững chắc trong những lúc khó khăn. Gia đình là nơi ta tìm thấy tình yêu thương vô điều kiện, sự sẻ chia và sự chăm sóc, giúp ta trưởng thành và phát triển. Trong môi trường gia đình, mỗi cá nhân học được cách yêu thương, tôn trọng và cảm thông với người khác. Khi đối mặt với những thử thách trong cuộc sống, tình cảm gia đình luôn là điểm tựa tinh thần lớn lao, giúp ta vượt qua mọi khó khăn. Chính vì thế, gia đình luôn là nền tảng vững chắc để mỗi con người vững bước trên con đường đời.

 

Bài làm 

Bài thơ “Chốn Quê” của Nguyễn Khuyến là một tác phẩm thơ ca về cuộc sống của người nông dân miền quê Việt Nam thời kỳ đầu thế kỷ XX. Bức tranh về nỗi khổ khó, tính kiệm kẹm và mâu thuẫn trong cuộc sống của người dân nông thôn được tác giả khắc họa một cách chân thực, đem đến sự đồng cảm và suy ngẫm sâu sắc về hoàn cảnh của họ.

Bài thơ bắt đầu với những dòng chữ đầy cay đắng:

Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua,
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.
Phần thuế quan Tây, phần trả nợ,
Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.

Điều này cho thấy cuộc sống làm ruộng của người dân nông thôn là một chuỗi thất bại, vất vả và đầy nhọc nhằn. Nỗi khổ khó trong cuộc sống được thể hiện qua việc phải đối mặt với nợ nần, thuế quan, phải dùng nửa công đứa ở, nửa thuê bò.

Sớm trưa dưa muối cho qua bữa,
Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.

Tác giả cũng miêu tả cảnh đời sống thiếu thốn của người dân nông thôn khi phải sớm trưa dưa muối để qua bữa, không dám mua búa trầu chè tại chợ, cho thấy tính kiệm kẹm và khó khăn trong việc chi tiêu.

Tuy nhiên, điều đáng suy ngẫm là dù đã sống kiệm kẹm, cần cù làm việc nhưng người dân nông thôn vẫn chưa có khả năng khá hơn trong cuộc sống. Tác giả đặt câu hỏi “Cần kiệm thế mà không khá nhỉ, Bao giờ cho biết khỏi đường lo?” để thể hiện sự mâu thuẫn trong cuộc sống của người dân nông thôn.

Họ đã nỗ lực, làm việc cật lực nhưng vẫn không thoát khỏi đường đời khốn khổ, vất vả. Đó là sự bóc lột của biết bao nhiêu tầng lớp lên đầu những người dân nghèo khổ và yếu đuối. Không có ai ra mặt giúp những người thấp cổ bé họng đó cả, vậy nên họ luôn phải chịu những ách áp bức nặng nề.

Bài thơ “Chốn Quê” là một lời ca tụng và gửi gắm nỗi niềm của người nông dân Việt Nam thời bấy giờ. Đó là cuộc sống khó khăn, nhọc nhằn, nơi mà họ phải sống tích cực, đương đầu với khó khăn và bất công của xã hội.