Nguyễn Công Sơn

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Công Sơn
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

a. Xác định đúng yêu cầu của đề: Nghị luận văn học.

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích, đánh giá những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của đoạn trích.

c. Đề xuất được hệ thống ý làm rõ vấn đề bài viết:

- Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm; vấn đề nghị luận.

- Thân bài:

+ Nội dung: Đoạn trích là nỗi cô đơn, sầu khổ, thương nhớ da diết của người chinh phụ dành cho chồng đi chinh chiến phương xa. Nỗi buồn ấy là sự tuyệt vọng, khắc khoải của người phụ nữ, dù biết chắc chồng sẽ khó có thể quay về nhưng trong thâm tâm vẫn hi vọng. 

+ Nghệ thuật:

  • Thể thơ song thất lục bát giàu nhạc tính phù hợp với việc bộc bạch, thổ lộ cảm xúc của con người đã tạo ra âm hưởng buồn thương như dòng tâm trạng của người phụ nữ trong suốt cả đoạn trích.
  • Hệ thống những từ láy, biện pháp điệp từ, điệp ngữ càng làm cho những câu thơ trở nên nặng trĩu tâm trạng, mở ra một nỗi buồn thương bao trùm lên cảnh vật.
  •  …

- Kết bài:

+ Khẳng định lại một cách khái quát những đặc sắc về nghệ thuật: giá trị tư tưởng và giá trị thẩm mĩ của bài thơ.

+ Nêu tác động của tác phẩm đối với bản thân.

d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.

e. Sáng tạo: Sử dụng hình ảnh, từ ngữ, biện pháp tu từ độc đáo; Lời văn trau chuốt, sinh động, gợi cảm.


- Cuộc đời con người không tồn tại vĩnh viễn mà chỉ là khoảng thời gian hữu hạn, chúng ta cũng không được hưởng đặc ân vô biên từ tạo hóa.

- lựa chọn của Từ Thức là: chọn vào núi, xa rời cuộc sống trần gian
_ lí giải:Từ Thức trở nên lạc lõng bơ vơ khi chàng không còn thuộc về chốn thần tiên cũng không còn hợp với cõi nhân gian. Chính vì vậy ra đi là cách tốt nhất cho chàng.

câu 1.

Nhân vật Lý Hữu Chi trong Chuyện Lý tướng quân hiện lên như biểu tượng của kẻ có quyền nhưng đánh mất đạo làm người. Xuất thân chỉ là người làm ruộng, nhờ sức khỏe và tài đánh trận mà được tiến cử làm tướng quân, Hữu Chi lẽ ra phải biết giữ mình, lấy đức độ để đáp lại sự tin cậy của triều đình và lòng dân. Thế nhưng, khi có quyền lực trong tay, hắn trở nên tàn bạo, tham lam, cậy thế, ức hiếp dân chúng, chiếm đoạt ruộng đất, bắt người phục dịch khổ cực. Hữu Chi không những vô đạo mà còn coi thường lời cảnh tỉnh của thầy tướng, cố chấp tự cho mình có thể “thoát khỏi trời”. Chính sự mù quáng và lòng tham vô độ đã đẩy hắn đến kết cục bị xét xử dưới âm ti với những hình phạt khốc liệt. Nhân vật Hữu Chi mang ý nghĩa cảnh tỉnh sâu sắc: kẻ dùng quyền để làm ác ắt phải trả giá, dù ở đời hay ở cõi chết. Qua đó, tác giả khẳng định quy luật báo ứng, đồng thời đề cao đạo đức, lòng nhân và trách nhiệm của con người trước cộng đồng.

câu 2.

Trong Chuyện Lý tướng quân, nhân vật Lý Hữu Chi là minh chứng điển hình cho hậu quả của lòng tham vô độ. Từ một người làm ruộng được trao cơ hội trở thành tướng quân, Hữu Chi lại để sự tham lam và khao khát quyền lực che mờ lý trí. Hắn chiếm đoạt ruộng đất, bóc lột dân chúng, buông mình vào sắc dục và bạo lực, bất chấp lời cảnh tỉnh về lưới trời báo ứng. Cuối cùng, hắn phải chịu những hình phạt tàn khốc nơi âm ti. Câu chuyện không chỉ phê phán một kẻ ác mà còn gợi lên hồi chuông cảnh tỉnh về tác hại khôn lường của lòng tham trong đời sống con người.

Lòng tham, nếu không được kiểm soát, có thể hủy hoại cả nhân cách lẫn tương lai. Ở mức độ xã hội, tham lam tiền bạc khiến con người vơ vét của công, tham nhũng, gian dối, làm băng hoại đạo đức và gây ra bất công. Trong môi trường học đường, lòng tham thể hiện qua gian lận thi cử, học tủ, học lệch để đạt điểm cao bằng mọi giá. Những hành vi ấy không chỉ làm người học trở nên ỷ lại, thiếu trung thực mà còn tước đi ý nghĩa thật sự của việc học. Trong các mối quan hệ, sự ích kỉ – một dạng của lòng tham – khiến con người chỉ biết nhận mà không biết cho đi, dẫn tới rạn nứt tình cảm và mất niềm tin. Như vậy, lòng tham không chỉ làm xấu đi hành vi mà còn bào mòn phẩm chất, đẩy con người xa dần các giá trị tốt đẹp.

Để hạn chế và loại bỏ thói xấu này, trước hết mỗi cá nhân cần rèn luyện nhận thức đúng đắn: hiểu rằng giá trị bền vững chỉ đến từ lao động trung thực và sự nỗ lực chân chính. Bên cạnh đó, cần biết tự kiểm soát bản thân, đặt ra giới hạn cho những ham muốn vật chất và học cách sống vừa đủ. Trong học tập, người học phải nuôi dưỡng tinh thần trung thực, biết tự lập, tự chịu trách nhiệm với kết quả của mình. Gia đình và nhà trường cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục đạo đức, xây dựng thói quen sống lành mạnh, biết sẻ chia và nghĩ cho người khác. Đồng thời, xã hội cần có cơ chế minh bạch, xử lý nghiêm các hành vi tham lam, gian dối để răn đe và củng cố niềm tin vào những giá trị công bằng.

Câu chuyện về Hữu Chi cho thấy: lòng tham, nếu không được kiểm soát, sẽ biến con người thành kẻ mù quáng, cuối cùng phải tự trả giá cho chính những gì mình gây ra. Sống biết đủ, biết đúng, biết thiện mới là cách giúp mỗi người giữ vững phẩm chất và góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.

câu 1. truyện truyền kì

câu 2. ngôi kể thứ ba

câu 3.− Nhân vật chính: Lý Hữu Chi.

− Đặc điểm nhân vật: Dữ tợn, tham lam, độc ác, ích kỉ, bạo ngược, coi thường đạo lí.

câu 4. Thúc Khoản xuống Minh Ti chứng kiến cảnh xử tội các linh hồn

câu 5

.– Ý nghĩa văn bản: Qua truyện Chuyện Lý tướng quân, truyện không chỉ lên án, tố cáo Lý tướng quân đã lạm quyền mà trở nên tàn ác, tham lam, coi thường đạo lí, làm nhiều chuyện ác mà còn từ chính câu chuyện ấy, khẳng định sự công minh của "lưới trời", nhấn mạnh lối sống "ác giả ác báo, thiện giả thiện báo".

– Từ ý nghĩa văn bản, HS tự rút ra cho mình bài học, đó có thể là bài học về việc sống lương thiện, công bằng, chính trực; bài học về ý nghĩa của lòng tham, học cách sống biết đủ, sống có trách nhiệm với cộng đồng;…

câu 1.

Trong đoạn trích Chinh phụ ngâm, hình ảnh người chinh phụ hiện lên thật đẹp mà cũng thật đáng thương. Đó là người vợ trẻ có chồng ra trận, sống trong cảnh cô đơn, nhớ thương và mong đợi vô vọng. Nhiều mùa xuân trôi qua mà tin chồng vẫn “vắng không”, nàng luôn trông ngóng, “thấy nhạn luống tưởng thư phong”, “nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng”. Mọi cảnh vật xung quanh đều gợi nhớ người đi xa, khiến nỗi nhớ càng thêm da diết. Người chinh phụ viết thư rồi lại thôi, gieo quẻ cầu tin, trò chuyện cùng ngọn đèn trong đêm vắng — những hành động nhỏ bé mà chất chứa biết bao tâm trạng khắc khoải, cô đơn. Qua hình tượng ấy, tác giả bộc lộ niềm cảm thương sâu sắc với người phụ nữ trong chiến tranh: họ vừa yêu thương, thủy chung, vừa chịu nhiều thiệt thòi, đau khổ. Nhân vật người chinh phụ không chỉ là tiếng nói cho nỗi cô đơn riêng của một người vợ, mà còn là tiếng lòng của bao người phụ nữ xưa bị chiến tranh và lễ giáo chia lìa hạnh phúc. Từ đó, ta càng thêm trân trọng cuộc sống hòa bình, hạnh phúc và tình yêu đoàn tụ hôm nay.
câu 2.

Đọc Chinh phụ ngâm, ta bắt gặp hình ảnh người chinh phụ cô đơn, ngày ngày ngóng trông chồng trở về từ nơi biên ải xa xôi. Từ nỗi lòng của người phụ nữ ấy, ta thấm thía hơn những mất mát và đau thương do chiến tranh gây ra, đồng thời nhận ra trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay trong việc trân trọng và giữ gìn cuộc sống hòa bình.

Chiến tranh chưa bao giờ mang lại niềm hạnh phúc thực sự cho con người. Nó để lại biết bao tang thương, đổ nát và chia ly. Trong Chinh phụ ngâm, người chồng ra đi nơi biên ải, còn người vợ ở nhà mòn mỏi trông tin. Mỗi hình ảnh, mỗi âm thanh đều gợi nỗi nhớ, nỗi lo và cô đơn không nguôi. Qua đó, ta thấy chiến tranh không chỉ cướp đi mạng sống của người lính mà còn lấy đi niềm vui, hạnh phúc và tuổi xuân của biết bao người ở lại. Trong lịch sử dân tộc, bao cuộc chiến đã đi qua, để lại vô vàn nấm mồ, những mái nhà không còn người thân, những đôi lứa vĩnh viễn chia lìa. Chiến tranh là sự hủy diệt cả về vật chất lẫn tinh thần, làm tổn thương sâu sắc trái tim con người.

Chính vì vậy, hòa bình là giá trị thiêng liêng và vô giá. Chúng ta – những người trẻ sinh ra trong thời bình – càng phải biết trân trọng và gìn giữ điều đó. Giữ gìn hòa bình không chỉ là bảo vệ Tổ quốc khi có giặc ngoại xâm, mà còn là sống nhân ái, đoàn kết, tránh bạo lực, yêu thương con người và chung tay xây dựng xã hội văn minh, tốt đẹp. Hòa bình chỉ bền vững khi mỗi người trẻ có ý thức trách nhiệm, học tập tốt, rèn luyện đạo đức, và góp phần dựng xây đất nước giàu mạnh để không còn nỗi lo chiến tranh.

Chiến tranh đã đi qua, nhưng âm vang đau thương của nó vẫn còn mãi. Chinh phụ ngâm như một tiếng khóc ngân dài, nhắc nhở con người hôm nay hãy biết yêu thương, trân trọng và bảo vệ cuộc sống bình yên. Giữ gìn hòa bình chính là cách chúng ta tri ân những người đã ngã xuống và gìn giữ hạnh phúc cho mai sau.

câu 1. thể thơ song thất lục bát
câu 2. Trải mấy xuân tin đi tin lại,
Tới xuân này tin hãy vắng không.
Thấy nhạn luống tưởng thư phong(1),
Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng.

Đề chữ gấm(4) phong thôi lại mở,
Gieo bói tiền(5) tin dở còn ngờ,

Ngoài rèm, thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng.

câu 3. Luôn trông ngóng tin chồng, thấy vật gì cũng gợi ra chồng, viết thư rồi lại thôi, gieo quẻ cầu tin, tìm niềm an ủi trong cô đơn
câu 4. biện pháp tu từ nhân hóa
tác dụng: làm nổi bật nỗi cô đơn của người chinh phụ
câu 5. trong văn bản người chinh phụ đã thể hiện nỗi cô đơn, nỗi buồn sâu sắc của người phụ nữ có chồng ra trận. qua đó thể hiện được giá trị của sự hòa bình