Nguyễn Ngọc An
Giới thiệu về bản thân
điện phân dung dịch nacl:
2nacl + 2h2o → 2naoh + h2 + cl2
nước muối ban đầu: 300 g/l
nước muối nghèo: 220 g/l
→ lượng nacl đã phản ứng: 300 − 220 = 80 g
m(nacl) = 80 g
m = 58,5 g/mol → n(nacl) = 80 / 58,5 ≈ 1,37 mol
theo phương trình: 1 mol nacl tạo 1 mol naoh
→ n(naoh) ≈ 1,37 mol
m(naoh) = 1,37 × 40 ≈ 54,8 g
tính hiệu suất 80%:
m thực tế = 54,8 × 0,8 ≈ 43,8 g
vậy với mỗi lít nước muối bão hòa ban đầu có thể thu được khoảng 43,8 g naoh.
vỏ tàu biển bằng thép bị ăn mòn do nước biển là môi trường điện li làm xảy ra ăn mòn điện hóa. để bảo vệ có thể sơn phủ bề mặt vỏ tàu bằng sơn chống gỉ nhằm cách li thép với nước và oxi; ngoài ra có thể gắn các tấm kẽm vào vỏ tàu (bảo vệ catot), khi đó kẽm hoạt động mạnh hơn sắt nên sẽ bị oxi hóa trước, còn sắt được bảo vệ nên không bị ăn mòn.
sắt chỉ đẩy được kim loại đứng sau nó trong dãy hoạt động hóa học nên phản ứng xảy ra với cuso4, agno3, fe2(so4)3 và pb(no3)2, còn alcl3 và kcl không phản ứng.
fe + cuso4 → feso4 + cu↓
fe + 2agno3 → fe(no3)2 + 2ag↓
fe + fe2(so4)3 → 3feso4
fe + pb(no3)2 → fe(no3)2 + pb↓
với alcl3 và kcl: không xảy ra phản ứng.
gang và thép đều là hợp kim của sắt với cacbon, trong đó gang có hàm lượng cacbon từ 2,14% trở lên (thường 2,5–4%) và còn chứa silic, mangan, lưu huỳnh, photpho nên cứng, giòn và có tính đúc tốt; còn thép có hàm lượng cacbon nhỏ hơn 2,14% (thường 0,02–1%) ngoài ra có mangan, silic và có thể thêm crom, niken, molypden nên bền, dẻo và dễ gia công hơn gang.