Nguyễn Khánh Linh
Giới thiệu về bản thân
câu 2:
Lần gần nhất mà bạn phải ngồi chờ đợi một ai đó là từ khi nào? Có lẽ thói quen đi trễ đã không còn xa lạ gì với mọi người nữa, nó gần như trở thành thói quen của rất nhiều người trong xã hội, đủ mọi tầng lớp, lứa tuổi,…và đặc biệt là ở lứa tuổi học sinh có thói quen đi học muộn với đủ mọi lí do hết sức vô lí được đưa ra.
Quản lý thời gian là một giải pháp cần thiết để khắc phục được tình trạng trễ giờ, quên thời gian,... và cần phải bố trí đủ thời gian vào buổi sáng để sẵn sàng đi học, trì hoãn các công việc không cần thiết cũng như dự đoán được các vấn đề về giao thông. Rất nhiều người không có ý thức sắp xếp, phân bổ thời gian một cách hợp lý, làm việc gì cũng chậm chạp và họ coi việc đi học muộn trở thành một việc hết sức bình thường. Việc đi đúng giờ không chỉ thể hiện bạn là một người văn minh, hiện đại mà còn là một người biết tôn trọng người khác. Chẳng hạn việc bạn thường xuyên đi trễ sẽ làm mất đi uy tín của bạn, lời hứa không còn có trọng lượng và bị đánh giá là người không đáng tin cậy. Nếu bạn nghĩ rằng đi học muộn là việc của bạn và hậu quả ra sao mình bạn chịu thì nhầm rồi nhé. Khi bạn đến lớp muộn, nó không chỉ làm gián đoạn dòng chảy của một bài giảng hoặc thảo luận, mà còn ảnh hưởng đến sự tập trung của học sinh khác, cản trở việc học của tập thể và thường ăn mòn tinh thần lớp học. Thầy cô cũng vì thế mà cảm thấy bực mình và không muốn dạy một lớp học mà có nhiều bạn vô ý thức, vô kỉ luật như vậy.
arrow_forward_ios Đọc thêm Pause 00:00 00:05 01:31 MuteViệc mọi người đi trễ có thể do một sự cố ngẫu nhiên như: ngủ quên, tắc đường, nhỡ xe, thời tiết,…. nhưng cũng có thể đó đã trở thành một thói quen khó có cách nào sửa đổi. Có rất nhiều nguyên nhân khiến các bạn đến lớp muộn, có thể là nguyên nhân chủ quan với lí do làm bài tập ngủ muộn, sáng dậy muộn,… hay nguyên nhân khách quan như việc tắc đường, xe hỏng,…. Nhưng dù có là lý do gì đi nữa thì việc đi trễ vẫn là một thói quen không tốt để lại rất nhiều hậu quả đáng tiếc và chúng ta cần từ bỏ nó ngay từ bây giờ. Tác hại của việc đi trễ là vô cùng lớn. Nếu mỗi người trong xã hội đều không coi trọng việc đúng giờ thì xã hội sẽ không thể nào tiến bộ được. Để tránh tình trạng đi học muộn, các bạn hãy tự chọn cho mình một biện pháp khắc phục phù hợp với bản thân mình, giảm thiểu tối đa thời gian bị mất bởi những lí do không cần thiết.
Đi trễ không chỉ đơn thuần là một thói quen xấu mà còn là căn bệnh bám rễ vào tư tưởng mỗi người và có thể gây nên những hậu quả khó lường nếu không được khắc phục ngay từ bây giờ. Để khắc phục thói quen đi trễ của bản thân, đầu tiên bạn phải là một người biết coi trọng thời gian và đơn giản là có ý thức tôn trọng người khác và tôn trọng chính bản thân mình. Thứ nhất, bạn phải biết cách lập kế hoạch phân bổ thời gian trong ngày một cách hợp lí. Nếu bạn là người chậm chạp, lề mề trong việc chuẩn bị trước khi ra khỏi nhà thì hãy nhớ cài đồng hồ hẹn trước một chút thời gian để không bị lỡ hẹn và đi học đúng giờ. Thứ hai, nếu bạn là người đãng trí hay quên thì hãy tự lập cho mình một thời gian biểu khoa học và nhớ thường xuyên theo dõi nó để chắc chắn rằng mình không bỏ quên hay đi trễ một cuộc hẹn hay một buổi học nào cả. Và bạn cũng nên dự trù thời gian để có thể hoàn thành công việc và những việc có khả năng phát sinh thêm, tránh để quỹ thời gian của bạn bị quá tải, trôi đi một cách lãng phí.
Cha ông ta có câu: “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”. Dù biết rằng việc thay đổi thói quen từ thường xuyên đi trễ thành một người luôn đúng giờ là một việc làm rất khó nhưng không phải là không làm được. Vì vậy bạn và tôi, chúng ta đừng để đi muộn trở thành thói quen không thể sửa mà hãy cùng nhau trở thành người có thói quen làm việc khoa học và hiệu quả hơn. Hãy biết quý trọng thời gian!
- Kể chuyện.
- Văn bản thuật lại diễn biến sự việc, hành trình của nhân vật.
- Họ chết vì tai họa ập đến khi cây thần bị chặt đổ. Khi cây thần bị chặt, nó đổ xuống theo hướng mà hai chị em chạy, gây ra cái chết thảm khốc cho họ, thể hiện sự trừng phạt của thần linh đối với hành động của Đăm Săn.
- Chi tiết kỳ ảo: Cây thần bị đốn, đổ xuống và gây tai họa chết người; cảnh Đăm Săn "bắt vạ" ông Trời, đòi trời cho lúa, cho nước, cho buôn làng.
- Tác dụng:
- Tăng tính hấp dẫn, thi vị: Tạo ra một thế giới huyền ảo, đậm chất sử thi, khơi gợi trí tưởng tượng của người đọc.
- Khẳng định sức mạnh và vai trò nhân vật: Cho thấy sức mạnh phi thường, tầm vóc anh hùng của Đăm Săn, người dám đương đầu với cả thần linh.
- Thể hiện quan niệm dân gian: Phản ánh niềm tin vào sức mạnh của thần linh và thế giới tự nhiên, cũng như khát vọng về sự tự chủ của con người.
- Tóm tắt: Đăm Săn cùng tôi tớ vào rừng đốn hạ cây thần để mang về làm nhà. Cây đổ gây ra tai họa, giết chết hai chị em Hơ Nhị, Hơ Bhị. Đăm Săn không sợ hãi, thách thức ông Trời, đòi Trời phải cho lúa, cho nước, cho buôn làng, thể hiện ý chí chinh phục tự nhiên và thần linh.
- Nhận xét cốt truyện:
- Đơn giản, tuyến tính: Tập trung vào một chuỗi sự kiện chính (chặt cây thần, tai họa, đối đầu với Trời).
- Xoay quanh nhân vật trung tâm: Cốt truyện phát triển xoay quanh hành động và ý chí của Đăm Săn.
- Đậm chất sử thi: Sử dụng các yếu tố kỳ ảo, ca ngợi sức mạnh và tinh thần anh hùng.
- Hành động của Đăm Săn: Dũng cảm, quyết đoán, không sợ hãi thần linh, dám vượt qua giới hạn con người bình thường để chinh phục tự nhiên.
- Thể hiện con người thời đó:
- Tinh thần tự chủ, chống lại số phận: Con người không cam chịu khuất phục trước thiên nhiên, thần linh mà muốn làm chủ cuộc sống, số phận của mình.
- Khát vọng chinh phục: Mong muốn làm chủ thiên nhiên, khai phá và xây dựng cuộc sống ấm no.
- Sức mạnh cộng đồng: Hành động của Đăm Săn không chỉ vì cá nhân mà còn vì sự thịnh vượng của cả buôn làng.
- (Đế(1)): Lời nói chêm vào của khán giả hoặc diễn viên khác.
- "Chị em ơi! Ra đây có phải xưng danh, không nào?": Lời thoại mở đầu, thể hiện sự điên loạn, cần sự chú ý.
- "Phụ Kim Nham, say đắm Trần Phương, Nên đến nỗi điên cuồng rồ dại.": Lời tự bộc lộ tâm trạng, hành động giả điên.
- (Hát điệu con gà rừng(2)): Một điệu hát chèo diễn tả nỗi đắng cay, bực tức.
- "Con gà rừng, con gà rừng ăn lẫn với công, Đắng cay chẳng có chịu được, ức! Mà để láng giềng ai hay?": Lời hát thể hiện sự ức chế, oán trách.
- "Bông bông dắt, bông bông díu, Xa xa lắc, xa xa líu": Lời hát, hành động diễn tả sự vẩn vơ, bấn loạn.
- (Tiếng trống nhịp nổi lên, Xuý Vân múa điệu bắt nhện, xe tơ, dệt cửi): Chỉ dẫn hành động múa minh họa cho lời hát, thể hiện tâm trạng.
- (Múa xong, Xuý Vân hát lên rồi cười và hát điệu sa lệch(4)): Lời hát thể hiện sự lưu luyến, nhớ thương, ai oán.
- "Chờ cho bông lúa chín vàng, Để anh đi gặt, để nàng mang cơm.": Lời hát vừa mơ ước hạnh phúc gia đình, vừa châm biếm hiện tại.
- Các từ ngữ như "ức bởi xuân huyên(3)", "điên cuồng rồ dại", "lưu luyến", "nhớ thương", "ai oán": Biểu hiện tâm lý nhân vật, cho thấy sự bế tắc, tuyệt vọng và khát khao hạnh phúc. Câu 2: Trong lời xưng danh, Xúy Vân tự nhận mình là người "dại dột", "con gà rừng ăn lẫn với con công", kể về nỗi cay đắng, cô đơn, ức nghẹn vì bị chồng (Kim Nham) bỏ rơi, mải mê đèn sách, chỉ vì say mê "sở khanh" Trần Phương mà phụ bạc chồng để rồi giờ đây thân phận bi đát, phải "giả điên" để trốn tránh thực tại và nỗi đau bị bỏ rơi, bị láng giềng cười chê. Qua đó, sân khấu chèo thể hiện rõ đặc trưng: Ngôn ngữ giàu hình ảnh, ẩn dụ ("gà rừng công", "đắng cay"), kết hợp giữa lời nói "điên loạn" và sự tỉnh táo bộc lộ bi kịch; phản ánh số phận bi kịch người phụ nữ xưa trong xã hội phong kiến, bị ràng buộc thân phận và khát vọng hạnh phúc; sử dụng các thủ pháp sân khấu như "giả dại" để bộc lộ tâm trạng sâu kín, tạo kịch tính và tiếng cười châm biếm, qua đó thể hiện nỗi đau, sự uất ức của nhân vật
- Câu 3: thể hiện ước mơ về một cuộc sống gia đình nhỏ bé, giản dị, đầm ấm và hạnh phúc viên mãn của Xúy Vân, nơi có sự sẻ chia, sum vầy, gắn bó giữa vợ chồng, đối lập với thực tại cô đơn, lỡ dở của nàng. Đó là khát khao về một mái ấm bình yên, đầy tình yêu thương, nơi người chồng đi làm, người vợ ở nhà chăm lo, cùng nhau vun vén cho cuộc sống.
- Câu 4: Cuộc sống của Thúy Vân (Thúy Vân hay Xúy Vân đều chỉ nhân vật trong Truyện Kiều, nhưng đề bài dùng "Xúy Vân", ta vẫn hiểu là nàng) trong gia đình chồng (nhà Hoạn Thư) là chuỗi ngày đau khổ, tủi nhục, bị đối xử tàn tệ, bị bạo hành cả thể xác lẫn tinh thần, biến thành người hầu hạ, bị coi thường, xa lánh; những câu hát tiêu biểu diễn tả là những đoạn nàng than thân, kể tội Hoạn Thư và tả cảnh ngộ bi đát của mình, nổi bật là các câu như: "Rẽ song pha mái, rạch đôi dải yếm", "Giọt châu lã chã, giọt trâu mồ hôi", "Mặt như quan san, mặt như người dưng", "Một thân một bóng, một mình nàng Thúy Kiều", "Chồng chung chưa dễ ai chiều, lời ra tiếng vào đã nhiều thị phi" và những câu than thở về số phận "bèo dạt mây trôi", "mười hai bến nước trong nhờ đục nhờ".
- Câu 5: Xúy Vân "phụ Kim Nham, say đắm Trần Phương" vì nàng khao khát tình yêu và tự do, nhưng cuộc sống hôn nhân với Kim Nham đầy cô đơn, bất hạnh do chồng mải mê công danh và không hiểu nàng, trong khi xã hội phong kiến hà khắc không cho phép phụ nữ tự do tìm hạnh phúc, khiến nàng rơi vào bế tắc, dễ bị lời đường mật của Trần Phương mê hoặc và hành động sai trái để trốn thoát.
- Câu 6: Theo em, Xúy Vân vừa đáng thương vừa đáng trách, nhưng đáng thương nhiều hơn vì nàng là nạn nhân của xã hội phong kiến, khao khát hạnh phúc gia đình nhưng lại rơi vào bi kịch bị chồng hắt hủi, không được yêu thương, trong lúc yếu lòng đã sa ngã và phải trả giá đắt cho khát vọng tự do tình yêu, một điều bị xã hội cũ cấm đoán. Nàng là người vợ đảm đang, nết na nhưng số phận bất hạnh, bị ép duyên, bị ruồng bỏ, dẫn đến hành động sai trái, vừa đáng trách cho sự nông nổi nhưng cũng đáng thương cho một người phụ nữ bị xã hội vùi dập
- Câu 7: Nếu Xúy Vân sống ở thời hiện đại, nàng có thể giải thoát bi kịch bằng cách giao tiếp thẳng thắn với Kim Nham để tìm giải pháp hòa giải hoặc ly hôn văn minh, chủ động theo đuổi hạnh phúc và sự nghiệp riêng (như tự kinh doanh, làm nghệ thuật), đồng thời tìm kiếm sự hỗ trợ từ tâm lý, pháp luật, thay vì giả điên hay oán trách, qua đó tự quyết định số phận và không phụ thuộc vào người khác, thoát khỏi định kiến xã hội cũ.
a) Trình tự các câu không hợp lý: Các câu không cùng nói về một vấn đề hoặc không theo một trình tự phát triển ý hợp lý.
- Câu 1: Nêu thực trạng sử dụng điện thoại thông minh.
- Câu 2: Nêu nhận thức mơ hồ về sách.
- Câu 3: Nêu thực trạng vứt bỏ thói quen đọc sách.
- Ý nghĩa của các câu không thống nhất: Ba câu này đang nói về ba khía cạnh khác nhau của vấn đề, khiến cho đoạn văn trở nên rời rạc và thiếu sự tập trung.
- b) Phép nối không phù hợp: Từ nối "Nhưng" ở câu 3 không hợp lý, vì nó tạo ra mối quan hệ đối lập không cần thiết giữa câu 2 và câu 3.
- Phép thế sai: Từ "Nó" ở câu 4 thay thế cho "điện thoại thông minh" nhưng lại không có từ nào phù hợp trong câu trước để nó có thể thay thế.
- c) Thay vì cầm một cuốn sách để đọc, nhiều người bây giờ chỉ biết lăm lăm trong tay một chiếc điện thoại thông minh.
- Tuy nó rất tiện lợi trong việc đáp ứng nhiều nhu cầu của con người trong cuộc sống hiện đại, nhưng lại khó giúp ta tìm được sự yên tĩnh, lắng sâu trong tâm hồn.
- Vì không thấy được ích lợi của sách trong việc bồi dưỡng tâm hồn, phát huy trí tưởng tượng và rèn luyện cách suy nghĩ, nên không ít người đã hầu như đã vứt bỏ thói quen đọc sách.
a) Trình tự các câu không hợp lý: Các câu không cùng nói về một vấn đề hoặc không theo một trình tự phát triển ý hợp lý.
- Câu 1: Nêu thực trạng sử dụng điện thoại thông minh.
- Câu 2: Nêu nhận thức mơ hồ về sách.
- Câu 3: Nêu thực trạng vứt bỏ thói quen đọc sách.
- Ý nghĩa của các câu không thống nhất: Ba câu này đang nói về ba khía cạnh khác nhau của vấn đề, khiến cho đoạn văn trở nên rời rạc và thiếu sự tập trung.
- b) Phép nối không phù hợp: Từ nối "Nhưng" ở câu 3 không hợp lý, vì nó tạo ra mối quan hệ đối lập không cần thiết giữa câu 2 và câu 3.
- Phép thế sai: Từ "Nó" ở câu 4 thay thế cho "điện thoại thông minh" nhưng lại không có từ nào phù hợp trong câu trước để nó có thể thay thế.
- c) Thay vì cầm một cuốn sách để đọc, nhiều người bây giờ chỉ biết lăm lăm trong tay một chiếc điện thoại thông minh.
- Tuy nó rất tiện lợi trong việc đáp ứng nhiều nhu cầu của con người trong cuộc sống hiện đại, nhưng lại khó giúp ta tìm được sự yên tĩnh, lắng sâu trong tâm hồn.
- Vì không thấy được ích lợi của sách trong việc bồi dưỡng tâm hồn, phát huy trí tưởng tượng và rèn luyện cách suy nghĩ, nên không ít người đã hầu như đã vứt bỏ thói quen đọc sách.
a) Trình tự các câu không hợp lý: Các câu không cùng nói về một vấn đề hoặc không theo một trình tự phát triển ý hợp lý.
- Câu 1: Nêu thực trạng sử dụng điện thoại thông minh.
- Câu 2: Nêu nhận thức mơ hồ về sách.
- Câu 3: Nêu thực trạng vứt bỏ thói quen đọc sách.
- Ý nghĩa của các câu không thống nhất: Ba câu này đang nói về ba khía cạnh khác nhau của vấn đề, khiến cho đoạn văn trở nên rời rạc và thiếu sự tập trung.
- b) Phép nối không phù hợp: Từ nối "Nhưng" ở câu 3 không hợp lý, vì nó tạo ra mối quan hệ đối lập không cần thiết giữa câu 2 và câu 3.
- Phép thế sai: Từ "Nó" ở câu 4 thay thế cho "điện thoại thông minh" nhưng lại không có từ nào phù hợp trong câu trước để nó có thể thay thế.
- c) Thay vì cầm một cuốn sách để đọc, nhiều người bây giờ chỉ biết lăm lăm trong tay một chiếc điện thoại thông minh.
- Tuy nó rất tiện lợi trong việc đáp ứng nhiều nhu cầu của con người trong cuộc sống hiện đại, nhưng lại khó giúp ta tìm được sự yên tĩnh, lắng sâu trong tâm hồn.
- Vì không thấy được ích lợi của sách trong việc bồi dưỡng tâm hồn, phát huy trí tưởng tượng và rèn luyện cách suy nghĩ, nên không ít người đã hầu như đã vứt bỏ thói quen đọc sách.
a) Trình tự các câu không hợp lý: Các câu không cùng nói về một vấn đề hoặc không theo một trình tự phát triển ý hợp lý.
- Câu 1: Nêu thực trạng sử dụng điện thoại thông minh.
- Câu 2: Nêu nhận thức mơ hồ về sách.
- Câu 3: Nêu thực trạng vứt bỏ thói quen đọc sách.
- Ý nghĩa của các câu không thống nhất: Ba câu này đang nói về ba khía cạnh khác nhau của vấn đề, khiến cho đoạn văn trở nên rời rạc và thiếu sự tập trung.
- b) Phép nối không phù hợp: Từ nối "Nhưng" ở câu 3 không hợp lý, vì nó tạo ra mối quan hệ đối lập không cần thiết giữa câu 2 và câu 3.
- Phép thế sai: Từ "Nó" ở câu 4 thay thế cho "điện thoại thông minh" nhưng lại không có từ nào phù hợp trong câu trước để nó có thể thay thế.
- c) Thay vì cầm một cuốn sách để đọc, nhiều người bây giờ chỉ biết lăm lăm trong tay một chiếc điện thoại thông minh.
- Tuy nó rất tiện lợi trong việc đáp ứng nhiều nhu cầu của con người trong cuộc sống hiện đại, nhưng lại khó giúp ta tìm được sự yên tĩnh, lắng sâu trong tâm hồn.
- Vì không thấy được ích lợi của sách trong việc bồi dưỡng tâm hồn, phát huy trí tưởng tượng và rèn luyện cách suy nghĩ, nên không ít người đã hầu như đã vứt bỏ thói quen đọc sách.
a) Trình tự các câu không hợp lý: Các câu không cùng nói về một vấn đề hoặc không theo một trình tự phát triển ý hợp lý.
- Câu 1: Nêu thực trạng sử dụng điện thoại thông minh.
- Câu 2: Nêu nhận thức mơ hồ về sách.
- Câu 3: Nêu thực trạng vứt bỏ thói quen đọc sách.
- Ý nghĩa của các câu không thống nhất: Ba câu này đang nói về ba khía cạnh khác nhau của vấn đề, khiến cho đoạn văn trở nên rời rạc và thiếu sự tập trung.
- b) Phép nối không phù hợp: Từ nối "Nhưng" ở câu 3 không hợp lý, vì nó tạo ra mối quan hệ đối lập không cần thiết giữa câu 2 và câu 3.
- Phép thế sai: Từ "Nó" ở câu 4 thay thế cho "điện thoại thông minh" nhưng lại không có từ nào phù hợp trong câu trước để nó có thể thay thế.
- c) Thay vì cầm một cuốn sách để đọc, nhiều người bây giờ chỉ biết lăm lăm trong tay một chiếc điện thoại thông minh.
- Tuy nó rất tiện lợi trong việc đáp ứng nhiều nhu cầu của con người trong cuộc sống hiện đại, nhưng lại khó giúp ta tìm được sự yên tĩnh, lắng sâu trong tâm hồn.
- Vì không thấy được ích lợi của sách trong việc bồi dưỡng tâm hồn, phát huy trí tưởng tượng và rèn luyện cách suy nghĩ, nên không ít người đã hầu như đã vứt bỏ thói quen đọc sách.
a) Trình tự các câu không hợp lý: Các câu không cùng nói về một vấn đề hoặc không theo một trình tự phát triển ý hợp lý.
- Câu 1: Nêu thực trạng sử dụng điện thoại thông minh.
- Câu 2: Nêu nhận thức mơ hồ về sách.
- Câu 3: Nêu thực trạng vứt bỏ thói quen đọc sách.
- Ý nghĩa của các câu không thống nhất: Ba câu này đang nói về ba khía cạnh khác nhau của vấn đề, khiến cho đoạn văn trở nên rời rạc và thiếu sự tập trung.
- b) Phép nối không phù hợp: Từ nối "Nhưng" ở câu 3 không hợp lý, vì nó tạo ra mối quan hệ đối lập không cần thiết giữa câu 2 và câu 3.
- Phép thế sai: Từ "Nó" ở câu 4 thay thế cho "điện thoại thông minh" nhưng lại không có từ nào phù hợp trong câu trước để nó có thể thay thế.
- c) Thay vì cầm một cuốn sách để đọc, nhiều người bây giờ chỉ biết lăm lăm trong tay một chiếc điện thoại thông minh.
- Tuy nó rất tiện lợi trong việc đáp ứng nhiều nhu cầu của con người trong cuộc sống hiện đại, nhưng lại khó giúp ta tìm được sự yên tĩnh, lắng sâu trong tâm hồn.
- Vì không thấy được ích lợi của sách trong việc bồi dưỡng tâm hồn, phát huy trí tưởng tượng và rèn luyện cách suy nghĩ, nên không ít người đã hầu như đã vứt bỏ thói quen đọc sách.
a) Phép lặp từ "hiền tài" ở cả 4 câu nhưng mỗi câu lại nói về một khía cạnh khác nhau và không có mối liên kết logic chặt chẽ, dẫn đến tính thống nhất về chủ đề bị thiếu, khiến đoạn văn rời rạc, Tuyensinh247.com.
- Chẳng hạn, câu 1 nói "Nhà nước ta rất coi trọng hiền tài", câu 2 nói "Người hiền tài có những năng lực vượt trội...", câu 3 "Hiền tài trong lịch sử thời nào cũng có", và câu 4 "Tên của những hiền tài và sự nghiệp của họ luôn được nhân dân ghi nhớ". Các ý này tuy có liên quan đến "hiền tài" nhưng lại không được triển khai một cách tuần tự, hợp lý, chỉ đơn thuần là liệt kê các ý riêng lẻ
b) Đoạn văn mắc lỗi thiếu tính thống nhất về chủ đề. Mặc dù từ "hiền tài" được lặp lại, nhưng mỗi câu lại diễn đạt một ý riêng biệt, không có sự phát triển ý từ câu này sang câu khác để hướng về một chủ đề chung.
- Đoạn văn diễn đạt lủng củng. Việc lặp lại từ và không có phép liên kết ý chặt chẽ khiến cho câu văn trở nên thiếu tự nhiên và khó hiểu,