Trần Tuấn Hưng
Giới thiệu về bản thân
Câu 1. Đoạn văn cảm nghĩ về cảm hứng chủ đạo và chủ đề (Khoảng 200 chữ)
"Bến đò ngày mưa" của Anh Thơ không chỉ là một bức tranh phong cảnh mà còn là một tiếng lòng trĩu nặng suy tư. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi buồn man mác, sầu muộn trước cảnh sắc thiên nhiên tẻ nhạt và nhịp sống ngưng trệ nơi làng quê. Từ đó, chủ đề của bài thơ hiện lên rõ nét: ngợi ca vẻ đẹp bình dị, chân thực của quê hương nhưng cũng đồng thời bộc lộ niềm xót xa cho cuộc sống quẩn quanh, lam lũ của con người trong xã hội cũ. Tác giả đã sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình điêu luyện; mỗi nhành tre rũ rợi hay dáng người đi chợ "đội cả trời mưa" đều gợi lên sự nhỏ bé của con người trước thiên nhiên và định mệnh. Qua bài thơ, người đọc cảm nhận được tình yêu quê hương tha thiết của thi sĩ, một tình yêu không ồn ào mà lắng đọng trong sự thấu cảm với những điều nhỏ bé, vắng lặng nhất.
Câu 2. Nghị luận về ý nghĩa của quê hương đối với cuộc đời mỗi con người (Khoảng 400 chữ)
"Quê hương mỗi người chỉ một / Như là chỉ một mẹ thôi". Lời thơ của Đỗ Trung Quân đã khái quát một sự thật vĩnh cửu: Quê hương chính là bến đỗ bình yên và là nguồn cội thiêng liêng nhất trong cuộc đời mỗi con người.
Trước hết, quê hương là nơi nuôi dưỡng ta khôn lớn về cả thể xác lẫn tâm hồn. Đó là nơi ta cất tiếng khóc chào đời, là mảnh đất lưu giữ những kỷ niệm ấu thơ bên cánh diều, bến nước. Quê hương cho ta dòng sữa ngọt ngào của lời ru, cho ta những bài học đầu đời về tình làng nghĩa xóm. Chính những giá trị văn hóa, truyền thống của quê cha đất tổ đã nhào nặn nên nhân cách và bản sắc riêng biệt của mỗi cá nhân.
Thứ hai, quê hương đóng vai trò là điểm tựa tinh thần vững chắc. Cuộc đời là hành trình dài với nhiều sóng gió và mệt mỏi. Khi đối mặt với thất bại hay những bon chen của cuộc sống hiện đại, hình ảnh quê hương thanh bình luôn là liều thuốc chữa lành tâm hồn. "Về quê" không chỉ là di chuyển về mặt địa lý, mà là tìm về nơi có sự bao dung, không toan tính, nơi chúng ta luôn được đón nhận dù thành công hay thất bại.
Hơn nữa, tình yêu quê hương còn là động lực lớn lao để con người vươn lên. Một người luôn nhớ về nguồn cội sẽ sống có trách nhiệm hơn. Niềm tự hào về quê hương thúc đẩy chúng ta học tập, lao động để góp phần dựng xây quê cha đất tổ ngày càng giàu đẹp. Tinh thần ấy khi nhân rộng sẽ kết tinh thành lòng yêu nước – sức mạnh giúp dân tộc vượt qua mọi nghịch cảnh.
Tuy nhiên, trong xã hội hội nhập, có một bộ phận người trẻ đang dần quên đi gốc rễ, chạy theo lối sống thực dụng và thờ ơ với nơi mình sinh ra. Đó là một sự bạc bẽo đáng trách, bởi kẻ không có quê hương trong lòng sẽ như cái cây không rễ, dễ dàng gục ngã trước những cám dỗ.
Tóm lại, quê hương là món quà vô giá mà thời gian không thể bào mòn. Dù đi đâu, ở đâu, chúng ta cũng cần khắc sâu bóng hình quê hương trong tim, bởi đó chính là nơi giữ cho tâm hồn ta luôn thuần khiết và ấm áp giữa dòng đời vạn biến.
Câu 1. Thể thơ: Thơ tám chữ.
Câu 2. Đề tài: Bức tranh thiên nhiên và cuộc sống sinh hoạt ở làng quê Việt Nam (cụ thể là cảnh bến đò trong một ngày mưa).
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ:
- Biện pháp: Nhân hóa qua các từ láy gợi hình, gợi cảm: "Tre rũ rợi", "Chuối bơ phờ", "Quán hàng... đứng xo ro".
- Tác dụng:
- Làm cho các sự vật vô tri (tre, chuối, quán hàng) trở nên có hồn, có tâm trạng như con người.
- Gợi lên cái vẻ mệt mỏi, lạnh lẽo và sự tàn tạ của cảnh vật dưới sức nặng của cơn mưa dai dẳng.
- Góp phần khắc họa sâu đậm cái không khí vắng lặng, đượm buồn của bến đò quê.
Câu 4. Hình ảnh và cảm nhận:
- Các hình ảnh miêu tả: Tre rũ rợi, chuối bơ phờ, dòng sông rào rạt, con thuyền trơ vơ, quán hàng không khách, bác lái buồm hút thuốc, bà hàng ho sù sụ, người đi chợ thúng đội đầu.
- Cảm nhận: Những hình ảnh này gợi lên một bức tranh thiên nhiên và đời sống u buồn, vắng lặng, lạnh lẽo. Mọi sự vật và con người đều hiện lên trong trạng thái thụ động, cam chịu trước thiên nhiên khắc nghiệt. Đó là cái buồn đặc trưng của nông thôn Việt Nam thời kỳ trước cách mạng.
Câu 5. Tâm trạng, cảm xúc gợi lên qua bài thơ: Bài thơ gợi lên tâm trạng buồn thương, bâng khuâng và cô đơn. Đó là cái nhìn đầy xót xa trước cảnh đời nghèo nàn, tẻ nhạt nơi quê kiểng. Đồng thời, nó cũng cho thấy tình yêu quê hương kín đáo của tác giả qua việc quan sát tỉ mỉ, trân trọng những nét bình dị nhất của hồn quê.
Câu 1. Thể thơ: Thơ tám chữ.
Câu 2. Đề tài: Bức tranh thiên nhiên và cuộc sống sinh hoạt ở làng quê Việt Nam (cụ thể là cảnh bến đò trong một ngày mưa).
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ:
- Biện pháp: Nhân hóa qua các từ láy gợi hình, gợi cảm: "Tre rũ rợi", "Chuối bơ phờ", "Quán hàng... đứng xo ro".
- Tác dụng:
- Làm cho các sự vật vô tri (tre, chuối, quán hàng) trở nên có hồn, có tâm trạng như con người.
- Gợi lên cái vẻ mệt mỏi, lạnh lẽo và sự tàn tạ của cảnh vật dưới sức nặng của cơn mưa dai dẳng.
- Góp phần khắc họa sâu đậm cái không khí vắng lặng, đượm buồn của bến đò quê.
Câu 4. Hình ảnh và cảm nhận:
- Các hình ảnh miêu tả: Tre rũ rợi, chuối bơ phờ, dòng sông rào rạt, con thuyền trơ vơ, quán hàng không khách, bác lái buồm hút thuốc, bà hàng ho sù sụ, người đi chợ thúng đội đầu.
- Cảm nhận: Những hình ảnh này gợi lên một bức tranh thiên nhiên và đời sống u buồn, vắng lặng, lạnh lẽo. Mọi sự vật và con người đều hiện lên trong trạng thái thụ động, cam chịu trước thiên nhiên khắc nghiệt. Đó là cái buồn đặc trưng của nông thôn Việt Nam thời kỳ trước cách mạng.
Câu 5. Tâm trạng, cảm xúc gợi lên qua bài thơ: Bài thơ gợi lên tâm trạng buồn thương, bâng khuâng và cô đơn. Đó là cái nhìn đầy xót xa trước cảnh đời nghèo nàn, tẻ nhạt nơi quê kiểng. Đồng thời, nó cũng cho thấy tình yêu quê hương kín đáo của tác giả qua việc quan sát tỉ mỉ, trân trọng những nét bình dị nhất của hồn quê.
Câu 1. Cảm nhận về bài thơ (Khoảng 200 chữ)
Bài thơ "Việt Nam quê hương ta" của Nguyễn Đình Thi là một bản tình ca thiết tha về mảnh đất hình chữ S. Bằng thể thơ lục bát dân tộc, tác giả đã vẽ nên một bức tranh toàn cảnh về Việt Nam: từ vẻ đẹp thiên nhiên tráng lệ với "biển lúa", "cánh cò", "đỉnh Trường Sơn" đến những con người Việt Nam bình dị mà phi thường. Điều làm tôi xúc động nhất chính là sự đối lập đầy kiêu hãnh: một dân tộc "chịu nhiều thương đau", "vất vả in sâu" nhưng lại vô cùng quật cường trong chiến đấu và hiền hậu trong hòa bình. Những hình ảnh như "bữa cơm rau muống quả cà" gợi lên sự gần gũi, ấm áp của hồn quê. Bài thơ không chỉ khơi dậy niềm tự hào về vẻ đẹp gấm vóc mà còn nhắc nhở ta về cái giá của độc lập, về sức mạnh bền bỉ của một dân tộc "đất nghèo nuôi những anh hùng". Đọc bài thơ, ta thêm yêu, thêm trân trọng và thấy mình cần có trách nhiệm hơn với quê hương yêu dấu.
Câu 2. Nghị luận về tinh thần dân tộc của người Việt Nam (Khoảng 400 chữ)
Nếu có một sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, thì đó chính là tinh thần dân tộc. Đây không chỉ là một khái niệm trừu tượng mà là sức mạnh nội sinh mãnh liệt, giúp Việt Nam vượt qua mọi biến cố của thời đại.
Tinh thần dân tộc trước hết được biểu hiện qua lòng yêu nước nồng nàn. Lịch sử đã chứng minh, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, tinh thần ấy lại kết thành một làn sóng mạnh mẽ, nhấn chìm mọi lũ bán nước và cướp nước. Từ tiếng vang trên sông Như Nguyệt đến hào khí Đông A, và gần đây nhất là hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước trường kỳ. Tinh thần ấy còn là sự tự tôn dân tộc, ý chí tự lực tự cường, quyết tâm đưa đất nước thoát khỏi cảnh nghèo nàn, lạc hậu.
Trong thời bình, tinh thần dân tộc lại rạng ngời qua sự đoàn kết và lòng nhân ái. Mỗi khi thiên tai, dịch bệnh ập đến, truyền thống "lá lành đùm lá rách" lại bùng cháy. Hình ảnh những chuyến xe cứu trợ hướng về miền Trung trong bão lũ, hay những "siêu thị 0 đồng", "ATM gạo" trong đại dịch COVID-19 là những minh chứng sống động nhất. Tinh thần dân tộc cũng là niềm tự hào khi thấy màu cờ sắc áo Việt Nam tung bay trên các đấu trường quốc tế, từ kinh tế, khoa học đến thể thao.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập hiện nay, tinh thần dân tộc đang đứng trước những thách thức. Một bộ phận giới trẻ có biểu hiện "sính ngoại", thờ ơ với các giá trị truyền thống hoặc có cái nhìn lệch lạc về lịch sử. Để phát huy tinh thần dân tộc, mỗi cá nhân cần ý thức rõ trách nhiệm của mình: học tập để xây dựng đất nước, giữ gìn bản sắc văn hóa và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.
Tóm lại, tinh thần dân tộc chính là "nguồn nhựa sống" giúp Việt Nam vững vàng trước sóng gió. Như nhà văn Nguyễn Đình Thi từng viết: "Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên", tinh thần ấy sẽ mãi là ngọn đuốc soi đường để dân tộc ta vươn tới những tầm cao mới.
Câu 1. Thể thơ: Lục bát.
Câu 2. Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm (kết hợp với miêu tả và tự sự).
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong khổ thơ:
- Biện pháp tu từ: Điệp từ ("nhớ") và điệp cấu trúc ("Ta đi ta nhớ...").
- Tác dụng:
- Về nội dung: Nhấn mạnh nỗi nhớ da diết, khôn nguôi của người ra đi dành cho quê hương. Danh sách những sự vật được liệt kê (núi rừng, dòng sông, đồng ruộng, khoai ngô, rau muống, quả cà) cho thấy nỗi nhớ ấy len lỏi vào từng chi tiết bình dị, mộc mạc nhất của đời sống.
- Về nghệ thuật: Tạo nhịp điệu uyển chuyển, nồng nàn cho đoạn thơ, khiến lời thơ như một lời nhắc nhở, một lời thề nguyền gắn bó sắt son với cội nguồn.
Câu 4. Phẩm chất con người Việt Nam hiện lên trong bài thơ:
- Cần cù, chịu khó: "Mặt người vất vả in sâu", "áo nâu nhuộm bùn".
- Anh hùng, quật khởi: "Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên", sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tổ quốc.
- Hiền lành, yêu chuộng hòa bình: "Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa".
- Tài hoa, khéo léo: "Tay người như có phép tiên / Trên tre lá cũng dệt nghìn bài thơ".
- Thủy chung, tình nghĩa: "Yêu ai yêu trọn tấm tình thủy chung".
Câu 5. Đề tài và Chủ đề:
- Đề tài: Quê hương đất nước.
- Chủ đề: Ngợi ca vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ, thơ mộng và truyền thống lịch sử, phẩm chất cao quý của con người Việt Nam; qua đó thể hiện lòng tự hào và tình yêu quê hương đất nước sâu nặng của tác giả.
Câu 1. Phân tích nhân vật Sherlock Holmes (Khoảng 200 chữ)
Trong đoạn trích, nhân vật Sherlock Holmes hiện lên là hình mẫu lý tưởng của một thám tử thiên tài với tư duy logic sắc bén và khả năng quan sát bậc thầy. Điểm khác biệt lớn nhất ở Holmes chính là phương pháp "lập luận ngược chiều" – đi từ kết cục để truy tìm nguyên nhân. Ông không nhìn sự vật một cách hời hợt mà soi xét tỉ mỉ từng chi tiết nhỏ nhất: từ độ rộng của vệt bánh xe để xác định loại xe, đến chiều dài bước chân để đoán định tầm vóc thủ phạm. Sự nhạy bén của ông còn thể hiện qua việc ngửi mùi hương trên môi nạn nhân hay phân tích tâm lý tội phạm qua chữ viết trên tường. Holmes không chỉ có trí tuệ siêu việt mà còn rất thực tế, quyết đoán; ông biết cách loại trừ các giả thiết sai lầm và sử dụng mọi nguồn lực (như các chú bé lang thang) để đạt được mục đích. Qua đó, người đọc không chỉ thấy một nhà điều tra tài ba mà còn thấy một nghệ sĩ trong nghệ thuật suy luận, luôn điềm tĩnh, tự tin trước những vụ án hóc búa nhất
Câu 2. Trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế (Khoảng 400 chữ)
Trong dòng chảy của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế không còn là lựa chọn mà là con đường tất yếu của mọi quốc gia. Đối với Việt Nam, thế hệ trẻ chính là những "thuyền trưởng" nắm giữ vận mệnh dân tộc trên hành trình vươn ra biển lớn. Trách nhiệm của thanh niên hiện nay vì thế càng trở nên nặng nề và vẻ vang hơn bao giờ hết.
Trước hết, trách nhiệm hàng đầu của người trẻ là tự mình nâng cao năng lực và tri thức. Trong kỷ nguyên số, kiến thức là sức mạnh. Nếu không làm chủ được ngoại ngữ, công nghệ và các kỹ năng mềm, chúng ta sẽ tự mình bị đẩy lùi khỏi guồng quay của thế giới. Học tập không chỉ để lập thân, lập nghiệp mà còn để khẳng định trí tuệ Việt Nam trên trường quốc tế.
Thứ hai, đó là trách nhiệm giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc theo phương châm "hòa nhập nhưng không hòa tan". Hội nhập mang đến sự giao thoa văn hóa mãnh liệt, nhưng nếu không có gốc rễ vững chắc, chúng ta dễ dàng trở thành "bản sao" của các nền văn hóa khác. Người trẻ cần là những đại sứ văn hóa, mang hình ảnh, truyền thống và niềm tự hào của con người Việt Nam giới thiệu tới bạn bè năm châu.
Bên cạnh đó, mỗi thanh niên cần nuôi dưỡng khát vọng cống hiến và tinh thần khởi nghiệp. Thay vì sống hưởng thụ hay thờ ơ với vận mệnh quốc gia, chúng ta cần chủ động tìm kiếm các giải pháp sáng tạo để giải quyết những vấn đề chung như kinh tế, môi trường và an sinh xã hội. Đóng góp của mỗi cá nhân, dù nhỏ bé, cũng là những viên gạch xây dựng nên một Việt Nam hùng cường.
Tuy nhiên, thực tế vẫn còn một bộ phận trẻ sống thực dụng, "sính ngoại" và thiếu ý thức trách nhiệm. Đây là một rào cản lớn cho sự phát triển của đất nước. Để khắc phục, mỗi người cần tự rèn luyện bản lĩnh chính trị và đạo đức, biết yêu thương và trân trọng những giá trị cốt lõi của quê hương.
Tóm lại, thế hệ trẻ hôm nay phải là những "công dân toàn cầu mang trái tim Việt Nam". Bằng tri thức, lòng tự tôn dân tộc và ý chí vươn lên, chúng ta hoàn toàn có thể đưa đất nước vững bước trên con đường hội nhập, sánh vai với các cường quốc năm châu như lời Bác Hồ hằng mong đợi.
Câu 1. Thể loại của văn bản
Văn bản trên thuộc thể loại truyện trinh thám (một nhánh của văn học hư cấu).
Câu 2. Ngôi kể được sử dụng
Văn bản sử dụng ngôi kể thứ nhất.
Câu 3. Phân tích câu ghép
"Tôi bắt đầu xem xét đoạn đường dẫn đến ngôi nhà, và ở đó, tôi thấy rõ những vệt bánh xe, loại xe nhỏ hai chỗ chở thuê, và qua một vài câu hỏi, tôi biết chắc là xe này đã đậu ở đấy đêm trước."
- Loại câu ghép: Đây là câu ghép đẳng lập.
- Quan hệ ý nghĩa: Các vế câu có quan hệ liệt kê/nối tiếp. Các vế mô tả trình tự các hành động và phát hiện kế tiếp nhau của Holmes trong quá trình điều tra tại hiện trường.
Câu 4. Tại sao vụ án này lại được coi là nan giải, hóc búa?
Vụ án được coi là "bài toán khó" đối với các thanh tra Scotland Yard vì những yếu tố mâu thuẫn và kỳ lạ sau:
- Hiện trường mâu thuẫn: Nạn nhân không có bất kỳ thương tích nào trên cơ thể, nhưng căn phòng lại đầy những vết máu.
- Manh mối gây nhiễu: Xuất hiện chiếc nhẫn cưới của phụ nữ và chữ "Rache" viết bằng máu trên tường – những chi tiết cực kỳ khó hiểu về mặt động cơ.
- Hung thủ bí ẩn: Dấu vết bên ngoài (xe ngựa, chân ngựa, vết giày) cho thấy có sự hiện diện của người lạ nhưng không xác định được danh tính hay mục đích.
- Án chồng án: Khi vụ đầu chưa giải xong, vụ thứ hai (Staggerson) lại ập đến với cùng một dấu hiệu ("Rache"), khiến cảnh sát rơi vào bế tắc vì không tìm thấy mối liên hệ logic hay động cơ thực sự (tiền bạc hay chính trị đều bị loại trừ).
Câu 5. Nhận xét về cách lập luận của Sherlock Holmes
Cách lập luận của Holmes trong văn bản là một minh chứng mẫu mực cho tư duy logic và khoa học. Có thể nhận xét qua các điểm sau:
- Lập luận ngược chiều (Suy luận hồi quy): Holmes đi từ kết quả (thi thể, hiện trường) để truy tìm nguyên nhân và diễn biến đã xảy ra trước đó.
- Sự quan sát tỉ mỉ và sắc bén: Ông không bỏ qua bất kỳ chi tiết nhỏ nào (vệt bánh xe, độ rộng trục xe, mùi chua trên môi nạn nhân, vết máu mũi trên sàn). Đối với ông, mỗi dấu vết đều là một "ngôn ngữ" riêng.
- Phương pháp loại trừ: Holmes liệt kê các giả thiết (vụ án chính trị, cướp của) và dùng bằng chứng thực tế để loại bỏ những gì không phù hợp, cho đến khi chỉ còn lại một sự thật duy nhất dù nó có vẻ khó tin.
- Tính hệ thống và logic: Ông kết nối các mắt xích rời rạc thành một chuỗi sự kiện liên tục, không kẽ hở (từ dấu chân -> tầm vóc thủ phạm -> nghề nghiệp đánh xe -> danh tính Hope
câu1:
Trong đoạn trích Truyện Kiều, nhân vật Đạm Tiên hiện lên tuy không trực tiếp xuất hiện mà qua lời kể của Vương Quan, nhưng vẫn để lại ấn tượng sâu sắc. Đạm Tiên vốn là một ca nhi “nổi danh tài sắc một thì”, từng sống trong cảnh phồn hoa, được nhiều người ngưỡng mộ. Thế nhưng số phận nàng lại vô cùng ngắn ngủi và bi thảm: “nửa chừng xuân, thoắt gãy cành thiên hương”. Cái chết đến đột ngột, để lại nấm mồ hoang lạnh, không người hương khói giữa tiết Thanh minh. Qua hình ảnh Đạm Tiên, Nguyễn Du đã khắc họa rõ nét thân phận mong manh, bạc mệnh của người phụ nữ tài sắc trong xã hội phong kiến. Đạm Tiên vừa là một số phận đáng thương, vừa mang ý nghĩa dự báo cho cuộc đời đầy sóng gió của Thúy Kiều sau này. Nỗi đau của Đạm Tiên không chỉ là nỗi đau cá nhân mà còn là bi kịch chung của những “hồng nhan bạc mệnh”. Bởi vậy, nhân vật này góp phần thể hiện sâu sắc giá trị nhân đạo và tấm lòng xót thương con người của Nguyễn Du.
câu 2:
Trong thời đại công nghệ số, mạng xã hội đã trở thành một phần quen thuộc trong đời sống của nhiều học sinh. Mạng xã hội mang lại không ít lợi ích như mở rộng hiểu biết, kết nối bạn bè, hỗ trợ học tập và giải trí. Tuy nhiên, nếu lạm dụng, mạng xã hội có thể khiến học sinh sao nhãng việc học, sống thiếu trách nhiệm và lệ thuộc vào thế giới ảo. Vì vậy, việc sử dụng mạng xã hội một cách lành mạnh và hiệu quả là vấn đề cần được quan tâm nghiêm túc.
Trước hết, học sinh cần nhận thức đúng vai trò của mạng xã hội. Mạng xã hội chỉ là công cụ hỗ trợ, không phải mục đích sống. Việc sử dụng cần có chọn lọc, ưu tiên những nội dung tích cực, bổ ích như các trang học tập, khoa học, kỹ năng sống; tránh xa các thông tin độc hại, tin giả hay những trào lưu lệch chuẩn. Khi biết phân biệt đúng – sai, tốt – xấu, học sinh sẽ làm chủ được việc sử dụng mạng xã hội thay vì bị nó chi phối.
Bên cạnh đó, việc quản lí thời gian là yếu tố quan trọng. Học sinh nên đặt ra giới hạn cụ thể cho thời gian sử dụng mạng xã hội mỗi ngày, tránh tình trạng “lướt vô thức” kéo dài hàng giờ. Thời gian dành cho học tập, nghỉ ngơi, rèn luyện thể chất và giao tiếp trực tiếp với gia đình, bạn bè cần được ưu tiên hơn thế giới ảo. Có như vậy, cuộc sống mới cân bằng và lành mạnh.
Ngoài ra, học sinh cần có trách nhiệm với hành vi của mình trên mạng xã hội. Việc chia sẻ thông tin phải cẩn trọng, có văn hóa; không bình luận ác ý, không xúc phạm hay làm tổn thương người khác. Đồng thời, mỗi người cần bảo vệ thông tin cá nhân, tránh để bị lợi dụng hoặc rơi vào những nguy cơ không đáng có.
Tóm lại, mạng xã hội vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với học sinh hiện nay. Sử dụng mạng xã hội một cách lành mạnh và hiệu quả đòi hỏi sự tự giác, bản lĩnh và trách nhiệm của mỗi cá nhân. Khi biết làm chủ bản thân, học sinh không chỉ học tập tốt hơn mà còn hoàn thiện nhân cách, sống tích cực và có ích cho xã hội.
câu 1 : thể thơ của văn bản là thể thơ song thất lục bát
câu 2: là lời thoại trích dẫn trực tiếp bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ và đặt ra câu hỏi thể hiện sự ngạc nhiên buồn bã tiếc thương
câu 3 :hệ thống từ láy trong văn bản phong phú , giúp tác giả diễn tả được tâm trạng ,cảm xúc của nhân vật một cách trân thật và chi tiết
câu 4:tâm trạng của thúy kiều là :đau buồn ,thương tiếc cho số phận bi thảm của đạm tiên.điều này cho thấy thúy kiều là người con gái giàu tình yêu thương , tốt bụng thật thà
câu 5:bài học em rút ra được khi đọc nội dung phần đọc hiểu:
-phải biết yêu thương giúp đỡ người khác
My favorite community helper is a firefighter. A firefighter’s job is to put out fires and help people in emergencies. They wear a heavy uniform with a helmet and carry tools to rescue people. Firefighters are brave, strong, and always ready to help. They work hard to keep everyone safe, even in dangerous situations. Firefighters also teach people how to prevent fires and stay safe at home. I feel very thankful for firefighters because they risk their lives to protect others. Their courage and kindness make a big difference in the community, and they are true heroes to me.