Nguyễn Duy Hưng
Giới thiệu về bản thân
Bài thơ "Chân quê" của Nguyễn Bính mang đến một thông điệp sâu sắc về việc giữ gìn và trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của quê hương. Qua hình ảnh cô gái thay đổi sau khi lên tỉnh, tác giả ca ngợi vẻ đẹp mộc mạc, giản dị của người phụ nữ nông thôn, đồng thời thể hiện sự lo lắng về sự mai một của những giá trị truyền thống trước tác động của cuộc sống hiện đại. Bài thơ như một lời nhắn nhủ đến mỗi người về việc trân trọng bản sắc văn hóa, bởi đó là cội nguồn của mỗi con người.
Biện pháp tu từ:
- Ấn dụ: "Hương đồng gió nội" là hình ảnh ẩn dụ cho vẻ đẹp mộc mạc, giản dị, những giá trị văn hóa truyền thống của làng quê.
- Nói giảm, nói tránh: Cụm từ "bay đi ít nhiều" thể hiện sự thay đổi, sự mai một của những giá trị truyền thống một cách nhẹ nhàng, tinh tế, thay vì nói thẳng ra sự mất mát hoàn toàn.
Tác dụng của biện pháp tu từ:
- Gợi hình, gợi cảm: Hình ảnh "hương đồng gió nội" mang đến cho người đọc cảm nhận về vẻ đẹp đặc trưng của làng quê Việt Nam: hương lúa, hương đất, làn gió mát lành... Sự "bay đi ít nhiều" của hương đồng gió nội gợi lên sự tiếc nuối, xót xa trước sự thay đổi của quê hương.
- Thể hiện tâm trạng nhân vật: Câu thơ thể hiện sự hụt hẫng, lo lắng của chàng trai khi nhận ra những giá trị truyền thống đang dần phai nhạt. Đồng thời, nó cũng thể hiện sự nuối tiếc về những kỷ niệm đẹp đẽ của quá khứ.
- Góp phần thể hiện chủ đề: Câu thơ góp phần thể hiện chủ đề chính của bài thơ: sự thay đổi của làng
- Nói giảm, nói tránh: Cụm từ "bay đi ít nhiều" thể h sự thay đổi, sự mai một của những giá trị truyền trivity một cách nhẹ nhàng, tinh tế, thay vì nói thẳng ra sự mất mát hoàn toàn.
Tác dụng của biện pháp tu từ:
- Gợi hình, gợi cảm: Hình ảnh "hương đồng gió nội" mang đến cho người đọc cảm nhận về vẻ đẹp đặc trưng của làng quê Việt Nam: hương lúa, hương đất, làn gió mát lành... Sự "bay đi ít nhiều" của hương đồng gió nội gợi lên sự tiếc nuối, xót xa trước sự thay đổi của quê hương.
- Thể hiện tâm trạng nhân vật: Câu thơ thể hiện sự hụt hẫng, lo lắng của chàng trai khi nhận ra những giá trị truyền thống đang dần phai nhạt. Đồng thời, nó cũng thể hiện sự nuối tiếc về những kỷ niệm đẹp đẽ của quá khứ.
- Góp phần thể hiện chủ đề: Câu thơ góp phần thể hiện chủ đề chính của bài thơ: sự thay đổi của làng quê trước tác động của cuộc sống hiện đại và nỗi lo lắng về sự mai một của những giá trị văn hóa truyền thống.
- Tăng tính hàm súc, gợi hình: Việc sử dụng biện pháp tu từ giúp câu thơ trở nên hàm súc, giàu hình ảnh và gợi cảm xúc, giúp người đọc cảm nhận sâu sắc hơn về thông điệp mà tác giả muốn truyền tải.
Để có thể đưa đất nước Việt Nam giống như lời chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu” thì bên cạnh việc phát triển kinh tế, chúng ta cần phải biết giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
“Bản sắc văn hóa dân tộc” - một cụm từ nghe có vẻ trừu tượng nhưng thực ra nếu hiểu đơn giản thì đó chính là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần cốt lõi của một dân tộc. Văn hóa có thể hiện hữu bằng sản phẩm thuộc về vật chất như những món ăn của dân tộc, trang phục truyền thống, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử… Và cũng có thể vô hình qua những giá trị tinh thần: tiếng nói, truyền thống của dân tộc (yêu nước, hiếu học, thủy chung…), tác phẩm văn học, những nét đẹp trong phong tục tập quán… Quả thật, với hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam là một dân tộc đậm đà bản sắc văn hóa.
Bản sắc văn hóa có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia, dân tộc. Trước hết, bản sắc văn hóa chính là hồn cốt của dân tộc. Một dân tộc có giữ gìn được bản sắc văn hóa mới có thể giữ được đất nước. Vì thế mà suốt bốn nghìn năm Bắc thuộc, người phương Bắc luôn tìm cách đồng hóa nhân dân Đại Việt để biến nước ta thuộc quyền sở hữu của chúng. Cũng vì thế mà người Pháp đã gọi dân tộc ta là “An Nam mít” và chúng là “nước mẹ vĩ đại” sang khai thông văn hóa cho người dân của ta. Sau đó, văn hóa còn đem lại những lợi ích to lớn, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của đất nước. Những danh lam thắng cảnh, những di tích lịch sử chẳng phải là những địa điểm du lịch thu hút khách nước ngoài. Những món ăn đậm đà hương vị dân tộc nổi tiếng ở nước ngoài đã đem đến lòng tự hào, cùng lợi ích kinh tế to lớn… Cuối cùng, trong hàng trăm quốc gia trên thế giới, thì bản sắc văn hóa chính là cái riêng biệt, không thể trộn lẫn với bất kỳ nơi nào khác.
Với tầm quan trọng to lớn như vậy, cần phải có những biện pháp nào để giữ gìn bản sắc văn hóa. Có lẽ đầu tiên cần phải nói đến ý thức của mỗi cá nhân. Mỗi người dân, từ người già đến trẻ nhỏ, đều cần ý thức được vai trò to lớn của bản sắc văn hóa dân tộc. Từ đó, biết bảo vệ giữ gìn chúng không bị mai một đi theo thời gian. Ví dụ như, hiện nay có rất nhiều bạn trẻ theo đuổi những loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian như: ca trù, cải lương, chèo… Sau đó, cần phải có sự vào cuộc của chính quyền từ trung ương đến địa phương. Nhà nước cần đầu tư trùng tu lại những sản phẩm văn hóa thuộc về vật chất cũng như bảo vệ những sản phẩm văn hóa thuộc về tinh thần… Đôi khi, việc giữ gìn bản sắc văn hóa cũng đến từ những hành động vô cùng nhỏ bé: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, mặc áo dài trong những ngày lễ lớn của đất nước… Tuy hành động đó là nhỏ bé, nhưng lại vô cùng ý nghĩa.
Tóm lại, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là một việc làm quan trọng đối với mỗi quốc gia. Thế hệ trẻ hôm nay - những con người luôn dễ dàng tiếp thu với cái mới, hãy sống có ý thức bảo vệ những nét đẹp chân quý của đất nước
Nhân vật "em" trong Chân Quê của Nguyễn Bính là hình ảnh tiêu biểu cho vẻ đẹp mộc mạc, giản dị của người con gái thôn quê. Ban đầu, "em" gắn bó với "hương đồng gió nội," nhưng sau một lần lên tỉnh, vẻ chân quê ấy đã thay đổi. Sự thay đổi ấy thể hiện rõ qua trang phục: "Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng / Áo cài khuy bấm," khác xa với hình ảnh cô thôn nữ chân chất ngày nào. Những món đồ mang hơi hướng thành thị làm "em" trở nên xa lạ, khiến tác giả không khỏi tiếc nuối. Nhân vật "em" không chỉ là một cá nhân mà còn tượng trưng cho sự biến chuyển của làng quê trước nhịp sống mới. Qua đó, Nguyễn Bính bày tỏ nỗi bâng khuâng, hoài niệm về những giá trị truyền thống đang dần bị mai một, đồng thời gửi gắm thông điệp về việc trân trọng và giữ gìn bản sắc quê hương
Bài thơ nhắc đến loại trang phục sau: khăn nhung, quần lĩnh, áo cài khuy bấm, yếm lụa sồi, dây lưng đũi, áo tứ thân, khăn mỏ quạ, quần nái đen.
Theo em những loại trang phục này đại diện cho hai phong cách ăn mặc: trang phục hiện đại, cầu kì của thành thị (khăn nhung, quần lĩnh, áo cài khuy bấm) và trang phục truyền thống, giản dị của nông thôn (yếm lụa sồi, dây lưng đũi, áo tứ thân, khăn mỏ quạ, quần nái đen). Sự đối lập này phản ánh sự thay đổi trong phong cách sống và gu thẩm mỹ của nhân vật "em" khi tiếp xúc với cuộc sống thành thị. Tác giả ngầm đề cao vẻ đẹp giản dị, chân quê của người con gái
Nhan đề Chân quê gợi lên những liên tưởng về sự giản dị, mộc mạc, gần gũi với thiên nhiên và con người thôn quê. Từ "chân" trong tiếng Việt mang nghĩa là chân thực, nguyên bản, không bị lai tạp hay pha trộn. Còn "quê" gợi lên hình ảnh làng quê yên bình, nơi gắn bó với tuổi thơ, với những giá trị truyền thống. Nhan đề này có thể khiến người đọc cảm nhận được sự trân trọng đối với vẻ đẹp bình dị của làng quê Việt Nam, đồng thời gợi mở nội dung về sự đối lập giữa cái giản dị, chân chất của nông thôn với sự đổi thay của con người khi tiếp xúc với lối sống thành thị
Thể thơ của văn bản trên là thể thơ: lục bát