Ngô Thị Mỹ Dung
Giới thiệu về bản thân
1.
Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với nhân loại hiện nay. Môi trường không chỉ cung cấp không khí , nước, lương thực mà còn là không gian sống , nuôi dưỡng đời sống tinh thần của con người . Khi môi trường bị tàn phá, con người không chỉ đối mặt với thiên tai , dịch bệnh mà còn phải chịu những tổn thương tâm lí sâu sắc , như cảm giác mất mát, lo âu trước sự biến đổi của thiên nhiên. Thực tế cho thấy biến đổi khí hậu ,ô nhiễm không khí , nguồn nước đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống và tương lai của thế hệ sau. Vì vậy , bảo vệ môi trường không còn là lựa chọn mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội .Mỗi cá nhân cần bắt đầu từ những hành động nhỏ như tiết kiệm tài nguyên , giảm rác thảu nhựa, trồng cây xanh, nâng cao ý thức giữ gìn thiên nhiên . Đồng thời , các quốc gia cần có chính sách phát triển bền vững , hài hòa giữa kinh tế và môi trường . Chỉ khi môi trường được bải vệ , con người mới có thể sống khỏe mạnh, an toàn và phát triển lâu dài
2.
Hai bài thơ đã khắc họa hình tượng người ẩn sĩ - một kiểu con ngườ quen thuộc trong văn học - nhưng mỗi bài lại thể hiện một cách nhìn và cảm nhận khác nhau, từ đó giúp người đọc hiểu sâu hơn về vẻ đẹp tâm hồn của những con người lựa chọn lối sống ẩn dật.
Trong bài thơ " Nhàn " , người ẩn sĩ hiện lên với cuộc sống giản dị mà thanh thản. Những hình ảnh như " một mai , một cuốc , một cần câu " gợi ra một cuộc sống lao động nhẹ nhàng, hòa hợp với thiên nhiên . Cách dùng điệp từ " một " khiến nhịp thơ trở nên chậm rãi , thể hiện sự ung dung , không vội vã . Bên cạnh đó , các chi tiết " thu ăn măng trúc, đông ăn giá" , "rựu đến cội cây ta sẽ uống " cho thấy một lối sống đạm bạc nhưng vui vẻ , không màng đến vật chất . Đặc biệt câu thơ "Người khôn người đến chốn lao xao " thể hiện thái độ của tác giả đối với danh lợi : coi đó là nơi ồn ào , bon chen mà mình không muốn dấn thân vào. Như vậy người ẩn sĩ trong bài thơ này là người chủ động chọn cách sống " nhàn " , biết tránh xa danh lợi đễ giữ gìn nhân cách thanh cao .
Trong khi đó , bài thơ còn lại lại vẽ nên hình ảnh người ẩn sĩ với tân trạng có phần cô đơn và trăn trở. Cảnh vật hiện lên với " trời thu xanh ngắt " , "cần trúc lơ phơ gió hắt hiu" , " nước biếc trông như tầng khói phủ " đều mang vẻ đẹp yên tĩnh nhưng buồn . Không gian vắng lặng ấy dường như phản chiếu tâm trạng của con người . Những chi tiết như " song thưa để mặc bóng trăng vào" hay "một tiếng trên không ngỗng nước nài ?" càng làm nổi bật sự cô quạnh . Đặc biệt câu thơ " nghĩ ra lại thẹn với ông Đào cho thấy nhân vật trữ tình vẫn còn suy nghĩ , tự vấn bản thân , cảm thấy mình chưa thật sự đạt đến sự thanh cao như những bậc ẩn sĩ xưa. Điều đó chứng tỏ dù đã ở ẩn nhưng tâm hồn vẫn còn gắn bó với cuộc đời , vẫn còn những nỗi niềm chưa dứt.
So sánh hai bài thơ , có thể thấy điểm giống nhau là cả hai đều xây dựng hình tượng người ẩn sĩ sống gần gũi với thiên nhiên , tránh xa danh lợi. Tuy nhiên điểm khác nhau rất rõ ràng là ở bài thơ " Nhàn " , người ẩn sĩ sống rất ung dung , tự tại , dường như không còn vướng bận gì với cuộc đời. Còn ở bài thơ còn lại, người ẩn sĩ tuy sống ẩn dật nhưng vẫn mang trong lòng nỗi cô đơn và sự day dứt. Một bên là sự an nhiên , thanh thản , một bên là sự trầm lắng, suy tư.
Qua hai bài thơ, có thấy rằng hình tượng người ẩn sĩ không chỉ đơn giản là người rời xa cuộc sống ồn ào mà còn có thể hiện những suy nghĩ, cảm xúc rất khác nhau của mỗi nhà thơ. Điều đó giúp người đọc hiểu rằng mỗi con người , dù chonn một lối sống, vẫn có những tâm trạng và cách cảm nhận riêng về cuộc đời.
1. Hiện tượng " tiếc thương sinh thái " là trạng thái cảm xúc đau buồn , mất mát mà con người trải qua khi môi trường tự nhiên bị biến đổi, suy thoái hoặc biến mất do biến đổi khí hậu.
2. Bài viết trình bày thông tin theo trình tự từ khái quát đến cụ thể
- Mở đầu : giới thiệu hiện tượng " tiếc thương sinh thái "
- Tiếp theo : giải thích khái niệm ,nguồn gốc thuật ngữ
- Sau đó : phân tích biểu hiện , tác động của hiênn tượng
- Cuối cùng : đưa ra các dẫn chứng thực tế và số liệu khảo sát để làm rõ vấn đề
3.Tác giả sử dụng các bằng chứng:
- Dẫn lời, ý kiến của các nhà khoa học
- Ví dụ thực tế
- Kết quả khảo sát , số liệu thống kế từ nhiều quốc gia
---> Nhằm tăng tính xác thực , khách quan và thuyết phục cho thông tin
4. Nhận xét:
- Tiếp cận vấn đề từ góc độ khoa học kết hợp thực tiễn
- Đưa ra nhiều dẫn chứng cụ thể , đa dạng , có số liệu rõ ràng.
- Lập luận logics, chặt chẽ, dễ hiểu
---> Giúp người đọc nhận thức rõ mức độ nghiêm trọng của biến đổi khí hậu
5. Thông điệp : biến đổi khí hậu không chỉ tác động đến môi trường mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần con người . Chúng ta cần nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường , hành động kịp thời để hạn chế những mất mát không thể phục hồi
Câu 1:
Trong đoạn thơ , khi nghe giọng hát của người nông dân , nhân vật trữ tình đã có những liên tưởng rất đẹp và giàu ý nghĩa . Giọng hát ấy vang lên trầm trầm , mộc mạc dưới vành nón , gợi lên hình ảnh quen thuộc của người lao động trên cánh đồng . Nhân vật trữ tình liên tưởng tiếng hát ấy " như tiếng lúa khô chảy vào trong cối " , một âm thanh gần gũi, gắn liền với đời sống nông thôn . Đồng thời tiếng hát còn được ví " như đất ấm trào lên trong lưỡi sáng lưỡi cày " , gợi cảm giác mạnh mẽ , dạt dào sức sống của đất đai và mùa màng . Những liên tưởng ấy cho thấy nhân vật trữ tình cảm nhânn tiếng hát không chỉ bằng thính giác mà còn bằng cả tâm hồn . Giọng hát của người nông dân trở thành biểu tượng của sức lao động , của tình yêu cuộc sống và của vẻ đẹp bình dị nơi làng quê . Qua đó , ta thấy được sự gắn bó sâu sắc của con người với thiên nhiên và cuộc sống lao động . Đoạn thơ đac thể hiện tỉnh cảm trân trọng , yêu mến của nhân vật trữ tình đối với cuộc sống quê hương .
Câu 2 :
Tuổi trẻ là giai đoạn đẹp nhất của cuộc đời , là thời gian con người có nhiều khát vọng , hoài bão và cơ hội để khẳng định bản thân : " Tuổi trẻ ngày nay sống cần có ước mơ " , trong khi ý kiến khác lại khẳng định : Tuổi trẻ thời hội nhập hãy sống thực tế " . Thực chất , hâi quan niệm này không đối lập mà bổ sung cho nhau , bởi tuổi trẻ muốn thành công cần vừa có ước mơ vừa biết sống thực tế .
Trước hết ước mơ có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi người , đặc biệt là tuổi trẻ. Ước mơ chính là mục tiêu , là động lực để con người cố gắng vươn lên trong cuộc sống . Khi có ước mơ , con người sẽ có niềm tin , có khát vọng để vượt qua những khó khăn và thử thách . Ước mơ giứp tuổi trẻ sống có lý tưởng, biết mình cần làm gì và muốn trở thành người như thế nào trong tương lai. Thực tế cho thấy , nhiều người thành công trên thế giới đều bắt đầu từ những ước mơ lớn lao. Nếu tuổi trẻ không có ước mơ , con người dẽ dễ rơi vào lối sống thụ động , thiếu mục tiêu và dễ bị cuốn theo những điều tầm thường trong cuộc sống .
Tuy nhiên , trong thời đại hội nhập và phát triển nhanh chóng như hiện nay, sống thực tế cũng là điều rất cần thiết . Sống thực tế không có nghĩa là từ bỏ ước mơ mà là nhìn nhận đúng khả năng của bản thân , biết đặt ra mục tiêp phù hợp và có kế hoạch cụ thể để thực hiện . Nếu chỉ mơ ước mà không hành động , ước mơ sẽ mãi chỉ là những điều viển vông . Người trẻ càn hiểu rằng để đạt được thành công phải có sự nỗ lực , kiên trì và tinh thần trách nhiệm trong học tập cũng như trong công việc . Vì vấyoongs thực tế giúp tuổi trẻ biến những ước mơ của mình thành hiện thực
Trong thực tế , những người trẻ thành công thường là nhungex người biết kết hợp hài hòa giữa ước mơ và hành động thực tế . Họ không chỉ dám nghĩ , dám ước mơ mà còn biết nỗ lực hàng ngày để đạt được mục tiêu của mình . Chính sự kết hợp giữa khát vọng và sự thực tế đã giúp họ vượt qua khó khăn và từng buốc chạm tới thành công .
Từ đó có thể thấy rằng tuổi trẻ cần có ước mơ để định hướng cho tương lai, nhưng đồng thời cũng phải sống thực tế để biến những ước mơ ấy thành hiện thực. Ước mơ mang lại niềm tin và khát vọng, còn sự thực tế giúp con người hành động đúng đắn và hiệp quả hơn. Khi biết dung hòa hai yếu tố này, tuổi trẻ sẽ có thêm sức mạnh để phát triển bản thân và đóng góp cho xã hội.
Là người trẻ trong xã hội hiện đại , mỗi chúng ta cần nuôi dươngc những ước mơ đẹp và không ngừng coks gắng học tập ,rèn luyện để đạt được chúng. Chỉ khi vừ biết mơ ước vừa biết hành động thiết thực , tuổi trẻ mới thagj sự có ý nghĩa và tạo nên giá trị cho cuộc sống .
Câu 1 : Thể thơ tự do
Câu 2 : Những từ ngữ , hình ảnh gợi tả âm thanh trong văn bản :
Tiếng xe trâu lặng lẽ qua đêm
Ai gọi đấy , ai đang cười khúc khích
Tiếng gọi, tiếng cười khúc khích
Trầm trầm giọng hát
Tiếng huầy ơ như tiếng người chợt thức
Câu 3:
BPTT : so sánh
Tác dụng : làm nổi bật cảm giác thức dậy nhẹ nhàng , tươi mới của nhân vật trức tình, gợi sức sống, sự tươi non như thiên nhiên lúc ban mai
Câu 4: Nhân vật trữ tình cảm thấy xao xuyến , bâng khuâng , vui tươi và đầy sức sống khi nghe âm thanh quen thuộc của buổi sớm quê hương . Những âm thanh ấy gợi sự bình yên và ấm áp của cuộc sống lao động
Câu 5:
Bài thơ gợi cho em thấy vẻ đẹp bình dị của buổi ban mai nơi làng quê. Những âm thanh quen thuộc của cuộn sồng lao động như tiếng xe trâu , tiếng gọi , tiếng cười làm cho con người cảm thấy ấm áp và tràn đầy sức sống . Qua đó tác giả nhắc nhở chúng ta phải biết yêu quý thiên nhiên và trân trọng những điều giản dị của cuộ sống . Mỗi buổi sáng mới đều mang đến niềm hy vọng và năng lượng tích cực . Khi biết lắng nghe và cảm nhận , tâ sẽ thấy cuộc sống thật đẹp và đáng quý.
1.
Hình ảnh "cơm" xuất hiện xuyên suốt đoạn trích không chỉ là món ăn hàng ngày mà còn là biểu tượng giàu ý nghĩa , gói trọn tình thương , sự tần tảo và đức hi sinh của người mẹ dành cho con . Ngay từ những dòng đầu, cá mèn cơm mẹ chuẩn bị cho con trước khi lên đường đã mang trong nó sự chăm chút , lo toan của người mẹ luôn dõi theo từng bước chân con . Những bữa cơm quê mộc mạc ấy trở thành sợi dây kết nối thiêng liêng giữa con và mẹ , giữa hiện tại hối hả với ký ức yên bình nơi mái bếp nghèo. Hình ảnh chén cơm trắng đặt trên bàn khi người con trở về nhìn mẹ bệnh nặng gợi lên cảm giác nhói lòng : đó là chén cơm chất chứa hi vọng của mẹ - hy vọng được chăm con thêm một bữa như ngày còn khỏe. Nhưng mẹ không còn đủ sức lực , để rồi miếng cơm cháy giòn - món mà đứa con yêu thích - vĩnh viễn trở thành điều dang dở. Khi mẹ mất , sự xuất hiện của chén cơm trên bàn thờ lại càng làm nỗi tiếc nuối dâng đầy. Ở cuối đoạn trích , người con tự tay nhóm bếp , nấu lại một nồi cơm quê nhưng mùi khói bếp không thể nào còn là mùi của mẹ . Qua hình ảnh "cơm" tác giả gửi gắm thông điệp sâu sắc : hãy trân trọng từng khoảnh khắc bên mẹ , trân trọng những điều nhỏ bé nhưng chứa đựng tình thương lớn lao, bởi một khi mất đi ta chẳng thể nào tìm lại được.
2.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, vấn đề giữ gìn giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết nhất của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam - một đất nước có lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước , với kho tàng văn hóa phong phú, đa dạng và độc đáo - việc bảo vệ những giá trị ấy không chỉ là bổn phận mà còn là niềm tự hào lớn lao của mỗi con người Việt Nam. Bản sắc văn hóa dân tộc chính là "hồn cốt", là căn tính riêng biệt tạo nên sức sống, sức và vị thế của dân tộc trong dòng chảy văn minh nhân loại.
Bản sắc văn hóa dân tộc bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần được hình thành, gìn giữ và lưu truyền qua nhiều thế hệ . Không chỉ dừng lại ở những biểu hiện bên ngoài, văn hóa còn bao gồm cả hệ giá trị cốt lõi như lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết , ý chí kiên cường , sự thủy chung và lòng biết ơn - những phẩm chất đã làm nên sức mạnh Việt Nam qua bao thăng trầm lịch sử. Nếu một dân tộc đánh mất giá trị văn hóa của chính mình, dân tộc ấy sẽ trở nên nhạt nhòa giữa thế giới rộng lớn.
Tuy nhiên giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong thời đại hiện nay không dễ dàng. Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, công nghệ thông tin và mạng xã hội mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra vô số thách thức. Nhiều bạn trẻ chạy theo lối sống phương Tây một cách cực đoan , coi thường các giá trị truyền thống . Một bộ phận giới trẻ lạm dụng ngôn ngữ mạng , làm tiếng Việt bị biến dạng và nghèo nàn. Nhiều lễ hội truyền thống bị thương mại hóa, mất đi ý nghĩa nguyên bản. Không ít di tích lịch sử bị xâm phạm hoặc bị lãng quên bởi sự thiếu ý thức của con người. Những giá trị quý báu cha ông ta để lại đang đứng trước nguy cơ bị mai một bởi nhịp sống công nghệ hóa và sự xâm nhập ồ ạt của văn hóa ngoại lai.
Chính vì vậy, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trở thành trách nhiệm của toàn xã hội. Trước hết mỗi cá nhân cần nuôi dưỡng lòng tự tôn dân tộc và ý thức trân trọng văn hóa truyền thống. Giữ gìn tiếng việt trong sáng , cư xử văn minh theo truyền thống " tôn sư trọng đạo " , giữ gìn các phong tục đẹp như Tết , uống nước nhớ nguồn,... Người trẻ cần chủ động tìm hiểu lịch sử, di sản văn hóa , nghệ thuật như hát dân ca, đồng thời phát phát huy những giá trị ấy trong đời sống.
Gia đình là cái nôi nuôi dưỡng văn hóa , cần tăng cường giáo dục con cháu về truyền thống, khơi dậy niềm yêu thích văn hóa quê hương. Đồng thời cần sự hỗ trợ của nhà trường để học sinh có thể nghiệm văn hóa nhiều hơn để chạm vào truyền thống. Cần xử lí nghiêm các hành vi phá hoại, đồng thời hỗ trợ nghệ nhân , làng nghề và các dự án nơi công cộng. Đặc biệt cần kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống có thể thích nghi, tồn tại và lan tỏa trong đời sống.
Vì vậy giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ là nhiệm vụ, mà còn là niềm tự hào của mỗi người Việt Nam . Văn hóa là nền tảng tinh thần , là sức mạnh , là điểm tựa để dân tộc phát triển bền vững trong thời kì hội nhập. Khi mỗi người biết trân trọng và giữ gìn những giá trị ấy , bản sắc văn hóa Việt sẽ mãi tỏa sáng, đưa đất nước hội nhập một cách tự tin và đậm đà bản sắc.
1. Thể thơ tự do
2. "Trên nắng và dưới cát "
" Lúa con gái mà gầy còm úa đỏ "
3. Miền Trung là vùng đất chật hep, khắc nghiệt , thiên nhiên không ưa đãi nhưng con người miền Trung lại giàu tình nghĩa , thủy chung
4. Biện pháp tu từ: nhân hóa , nói quá
Tác dụng : gợi ra sự khắc nghiệt , cằn cỗi của miền , nhấn mạnh đời sống vất vả, thiếu thốn của người dân nới đây
5. Nhận xét : Sự thấu hiểu trước thiên tai khắc nghiệt , niềm thương yếu , trân trọng đối với con người miền Trung cần cù , giàu tình nghĩa
Văn hóa truyền thống là linh hồn của một dân tộc, là sự kết tinh những giá trị tinh thần và vật chất được hun đúc qua bao thế hệ. Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên sự đa dạng và phong phú cho nền văn minh nhân loại. Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa mạnh mẽ, việc giữ gìn và bảo vệ những giá trị văn hóa truyền thống không chỉ là trách nhiệm mà còn là điều kiện để khẳng định bản sắc dân tộc trong thời đại mới.
Văn hóa truyền thống không chỉ là những phong tục, tập quán, tín ngưỡng, mà còn bao gồm ngôn ngữ, trang phục, nghệ thuật, ẩm thực và lối sống. Nó phản ánh lịch sử, tư duy, quan niệm sống của cha ông, đồng thời là sợi dây kết nối các thế hệ. Những giá trị này giúp con người hiểu về cội nguồn, từ đó hình thành lòng tự hào dân tộc và ý thức gìn giữ bản sắc. Hơn nữa, văn hóa truyền thống còn là nền tảng để phát triển đất nước theo hướng bền vững. Một dân tộc mất đi bản sắc văn hóa sẽ dễ bị hòa tan trong dòng chảy hội nhập, đánh mất chính mình. Do đó, việc bảo vệ và phát huy những giá trị truyền thống không chỉ là sự trân trọng quá khứ mà còn là cách để xây dựng tương lai.
Trong thời đại công nghệ số và hội nhập toàn cầu, văn hóa truyền thống đang chịu nhiều thách thức. Một số giá trị tốt đẹp như trang phục truyền thống, lễ hội dân gian, phong tục tập quán đang dần bị mai một. Nhiều bạn trẻ ngày nay không còn mặn mà với những nét đẹp văn hóa xưa, thay vào đó là sự tiếp thu mạnh mẽ văn hóa phương Tây, thậm chí có xu hướng sính ngoại, coi nhẹ những giá trị truyền thống của dân tộc. Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng có nhiều cá nhân, tổ chức đang nỗ lực khôi phục và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc. Nhiều lễ hội truyền thống được tổ chức thường niên, các làng nghề thủ công được bảo tồn, và nghệ thuật dân gian như hát chèo, quan họ, ca trù,... đang dần được khôi phục qua các chương trình truyền hình và sự kiện văn hóa. Điều này cho thấy văn hóa truyền thống vẫn có sức sống mạnh mẽ nếu được quan tâm đúng cách.
Để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, trước hết, mỗi cá nhân cần nâng cao ý thức gìn giữ những giá trị truyền thống. Điều này có thể được thực hiện qua việc tôn trọng và thực hành các phong tục, lễ hội truyền thống, sử dụng và bảo vệ tiếng mẹ đẻ, trân trọng trang phục và ẩm thực dân tộc. Bên cạnh đó, giáo dục và tuyên truyền là yếu tố quan trọng. Nhà trường cần lồng ghép nội dung về văn hóa truyền thống vào chương trình giảng dạy, giúp thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về giá trị cốt lõi của dân tộc. Gia đình cũng đóng vai trò quan trọng trong việc truyền dạy những nét đẹp văn hóa cho con cháu qua các câu chuyện dân gian, các bữa cơm gia đình hay các hoạt động truyền thống.
Ngoài ra, cần có sự hỗ trợ từ nhà nước và các tổ chức xã hội. Việc bảo tồn di sản văn hóa, khôi phục các làng nghề truyền thống, phát triển du lịch văn hóa và đầu tư vào các sản phẩm nghệ thuật dân gian là những biện pháp thiết thực. Đồng thời, cần tận dụng công nghệ hiện đại để quảng bá văn hóa truyền thống ra thế giới, giúp bạn bè quốc tế hiểu hơn về bản sắc dân tộc Việt Nam.
Giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống là trách nhiệm của mỗi cá nhân và toàn xã hội. Trong thời đại toàn cầu hóa, việc bảo vệ bản sắc dân tộc không chỉ giúp chúng ta gìn giữ những giá trị quý báu của cha ông mà còn khẳng định vị thế của dân tộc trên trường quốc tế. Mỗi người hãy bắt đầu từ những hành động nhỏ như trân trọng tiếng Việt, yêu thích trang phục truyền thống, tìm hiểu về văn hóa dân tộc,… để góp phần bảo vệ những giá trị tốt đẹp đã được vun đắp qua bao thế hệ.
Trong bài thơ Chân quê, nhân vật “em” là hình tượng đại diện cho sự thay đổi của con người khi tiếp xúc với môi trường mới, cụ thể là sự chuyển biến trong cách ăn mặc và lối sống sau khi rời xa làng quê. Ban đầu, “em” là cô gái thôn quê giản dị, chân chất, gắn liền với những trang phục truyền thống như áo tứ thân, yếm lụa sồi, khăn mỏ quạ, quần nái đen. Tuy nhiên, sau một lần “đi tỉnh về,” em đã thay đổi, khoác lên mình những trang phục hiện đại hơn như “khăn nhung, quần lĩnh,” thể hiện sự tiếp thu lối sống mới. Trước sự đổi thay ấy, nhân vật “anh” bày tỏ sự tiếc nuối và mong muốn em giữ gìn vẻ đẹp quê mùa mộc mạc. Nhân vật “em” không chỉ là hình ảnh của một cô gái thôn quê mà còn đại diện cho sự biến chuyển trong xã hội, nơi con người dễ bị cuốn theo những xu hướng mới mà dần quên đi giá trị truyền thống. Qua đó, Nguyễn Bính gửi gắm thông điệp sâu sắc về việc trân trọng và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc giữa dòng chảy hiện đại.
Thông điệp bài thơ "Chân quê" :Bài thơ nhấn mạnh vẻ đẹp mộc mạc, giản dị của con người và quê hương, đồng thời gửi gắm thông điệp về việc trân trọng, giữ gìn những giá trị truyền thống trước sự đổi thay của cuộc sống hiện đại.
Biện pháp tu từ: Ẩn dụ. Tác dụng: Thể hiện sự thay đổi của con người khi rời xa quê, bày tỏ sự tiếc nuối và nhắc nhở về việc giữ gìn bản sắc truyền thống.