Nguyễn Thị Tuyết Mai
Giới thiệu về bản thân
Truyện ngắn Bát phở của nhà văn Phong Điệp là một tác phẩm giản dị nhưng giàu ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Qua câu chuyện nhỏ diễn ra trong một quán phở nơi thành phố, tác giả đã khắc họa cảm động tình cha con mộc mạc, sự hi sinh thầm lặng của người nông dân và những khoảng cách giữa đời sống nông thôn với thành thị. Tác phẩm để lại trong lòng người đọc nhiều suy ngẫm về tình thân và giá trị của sự yêu thương âm thầm trong cuộc sống. Trước hết, chủ đề nổi bật của truyện là tình cha con sâu nặng và sự hi sinh thầm lặng của người cha dành cho con. Hai người cha từ quê đưa con lên thành phố dự thi đại học, dù cuộc sống còn nhiều khó khăn nhưng vẫn cố gắng dành những điều tốt nhất cho con. Khi vào quán phở, họ chỉ gọi hai bát phở cho con ăn, còn mình thì ngồi trò chuyện, nhường phần ăn cho con. Hành động tưởng chừng rất nhỏ ấy lại chứa đựng tình yêu thương vô bờ bến. Người cha chấp nhận thiếu thốn, tiết kiệm từng đồng tiền ít ỏi chỉ mong con có thêm sức khỏe để thi cử tốt. Chính sự nhường nhịn giản dị ấy đã làm nổi bật vẻ đẹp của tình phụ tử chân thành, xúc động. Không chỉ vậy, truyện còn phản ánh sự khác biệt giữa đời sống nông thôn và thành thị. Hai người cha cảm thấy bỡ ngỡ trước nhịp sống nơi thành phố, từ chuyện giá cả đắt đỏ đến việc ăn uống sinh hoạt. Những bộ quần áo đã bạc màu được mang theo vì đó là đồ “chỉnh chu nhất” của họ nơi quê nhà. Chi tiết ấy giúp người đọc hiểu rõ hơn hoàn cảnh khó khăn của những người nông dân và càng thêm trân trọng sự hi sinh của họ dành cho con cái. Qua đó, tác giả thể hiện sự cảm thông sâu sắc với những con người lao động nghèo nhưng giàu tình yêu thương. Bên cạnh nội dung giàu ý nghĩa, truyện còn thành công nhờ nhiều nét đặc sắc nghệ thuật. Trước hết là nghệ thuật xây dựng tình huống truyện tự nhiên mà giàu sức gợi. Chỉ từ một bữa ăn phở bình thường nơi quán nhỏ, tác giả đã làm nổi bật được tình cha con cảm động. Tình huống đơn giản nhưng lại chứa đựng chiều sâu cảm xúc, khiến người đọc suy ngẫm lâu dài. Ngoài ra, tác giả sử dụng ngôi kể thứ nhất rất hiệu quả. Nhân vật “tôi” vừa là người chứng kiến vừa là người kể lại câu chuyện, giúp tạo cảm giác chân thực và gần gũi. Qua ánh nhìn của nhân vật “tôi”, hình ảnh hai người cha và hai cậu con trai hiện lên giản dị mà xúc động. Cách kể chuyện nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng giàu sức gợi đã góp phần làm tăng giá trị biểu cảm cho tác phẩm. Ngôn ngữ truyện cũng là một điểm nổi bật. Lời văn giản dị, mộc mạc, gần với lời nói đời thường nhưng lại giàu cảm xúc. Những chi tiết nhỏ như cái ví vải, bộ quần áo cũ hay ánh nhìn lặng lẽ của người cha đều góp phần khắc họa rõ nét hình ảnh người cha nghèo mà giàu tình thương con. Chính những chi tiết ấy đã tạo nên sức lay động mạnh mẽ đối với người đọc Tóm lại, Bát phở là một truyện ngắn giàu giá trị nhân văn, thể hiện sâu sắc tình cha con thiêng liêng và sự hi sinh thầm lặng của những người cha nơi làng quê. Với tình huống truyện giản dị, ngôi kể tự nhiên và ngôn ngữ chân thực, tác phẩm đã để lại trong lòng người đọc nhiều cảm xúc đẹp. Qua đó, truyện nhắc nhở mỗi chúng ta biết trân trọng hơn tình cảm gia đình và những hi sinh thầm lặng của cha mẹ trong cuộc sống hằng ngày
Câu 1. Văn bản bàn về: vẻ đẹp không gian mùa gặt ở nông thôn miền Bắc và tình cảm của người nông dân qua thơ Nguyễn Duy. Câu 2. Câu nêu luận điểm đoạn (3): “Chưa hết, không gian mùa gặt không chỉ được mở ra trên những cánh đồng ban ngày, nó còn hiện lên ở trong thôn xóm buổi đêm.” Câu 3. Thành phần biệt lập: a) Thành phần tình thái: “hình như” b) Thành phần phụ chú: “của một đồng, công một nén là đây” Câu 4. Đoạn (2) sử dụng cách trích dẫn: trích dẫn trực tiếp (từ thơ Nguyễn Duy). Tác dụng: làm rõ luận điểm, tăng tính thuyết phục và sinh động cho bài nghị luận. Câu 5. Lí lẽ và bằng chứng trong đoạn (4): → Giúp làm nổi bật tình cảm lo xa, trân trọng thành quả lao động của người nông dân, từ đó thể hiện sâu sắc nội dung bài thơ và tăng sức thuyết phục cho luận điểm. Câu 6. Em thích nhất: cách trích dẫn thơ kết hợp phân tích hình ảnh giàu cảm xúc của tác giả, vì giúp bài nghị luận sinh động, dễ hiểu và thuyết phục hơn.
Trong nền thơ ca kháng chiến Việt Nam, hình ảnh người lính luôn hiện lên giản dị mà cao đẹp. Bài thơ Bộ đội về làng của Hoàng Trung Thôn là một tác phẩm tiêu biểu khắc họa tình cảm gắn bó sâu nặng giữa người chiến sĩ với nhân dân. Qua hình ảnh những anh bộ đội trở về làng sau những ngày chiến đấu gian khổ, tác giả đã thể hiện tình quân dân ấm áp, chân thành và vẻ đẹp bình dị của làng quê Việt Nam trong kháng chiến. Trước hết, bài thơ làm nổi bật niềm vui rộn ràng của làng quê khi các anh bộ đội trở về. Ngay từ những câu thơ đầu: “Các anh về Mái ấm nhà vui, Tiếng hát câu cười Rộn ràng xóm nhỏ.” Không khí làng quê trở nên sống động, ấm áp bởi tiếng hát, tiếng cười. Sự xuất hiện của các anh bộ đội không chỉ mang đến niềm vui cho từng gia đình mà còn làm cả xóm làng bừng sáng. Hình ảnh ấy cho thấy bộ đội không chỉ là người chiến đấu bảo vệ Tổ quốc mà còn là người con thân thiết của quê hương. Niềm vui ấy còn được thể hiện rõ qua tình cảm nồng hậu của trẻ em và người mẹ già trong làng. “Lớp lớp đàn em hớn hở chạy theo sau” cho thấy sự háo hức, yêu mến và tự hào của thế hệ nhỏ tuổi đối với các anh bộ đội. Đặc biệt, hình ảnh “Mẹ già bịn rịn áo nâu” gợi lên tình cảm xúc động sâu sắc. Đó là tình mẫu tử thiêng liêng, là sự chờ đợi, nhớ thương và tự hào của những người mẹ có con đi chiến đấu. Qua đó, ta thấy được tình cảm quân dân gắn bó như ruột thịt trong những năm tháng kháng chiến gian khổ. Không chỉ thể hiện niềm vui của con người, bài thơ còn khắc họa vẻ đẹp giản dị nhưng giàu tình nghĩa của làng quê Việt Nam. Những câu thơ như: “Làng tôi nghèo Mái lá nhà tre.” đã gợi lên hình ảnh một làng quê còn nhiều thiếu thốn về vật chất. Tuy nhiên, đằng sau sự nghèo khó ấy lại là “tấm lòng rộng mở”, chan chứa tình yêu thương dành cho các anh bộ đội. Điều đó cho thấy vẻ đẹp truyền thống của nhân dân ta: dù cuộc sống còn khó khăn nhưng luôn sẵn sàng sẻ chia, đùm bọc những người chiến sĩ nơi chiến trường trở về. Bên cạnh nội dung giàu ý nghĩa, bài thơ còn thành công nhờ những đặc sắc nghệ thuật tiêu biểu. Trước hết là thể thơ tự do với nhịp điệu linh hoạt, phù hợp để diễn tả cảm xúc tự nhiên, chân thành. Ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc nhưng giàu sức gợi, gần gũi với đời sống làng quê. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng nhiều hình ảnh quen thuộc như mái nhà, xóm nhỏ, mẹ già, đàn em… góp phần làm nổi bật không khí ấm áp của tình quân dân. Điệp từ “các anh về” được lặp lại nhiều lần vừa tạo nhịp điệu cho bài thơ, vừa nhấn mạnh niềm vui và sự mong đợi của nhân dân khi bộ đội trở về. Như vậy, bằng giọng thơ chân thành, hình ảnh giản dị và cảm xúc sâu lắng, bài thơ Bộ đội về làng đã thể hiện thành công tình cảm gắn bó keo sơn giữa người lính và nhân dân trong thời kì kháng chiến. Tác phẩm không chỉ giúp người đọc hiểu hơn về vẻ đẹp của người chiến sĩ mà còn làm nổi bật truyền thống nghĩa tình của dân tộc Việt Nam. Đây là một bài thơ giàu ý nghĩa nhân văn, góp phần bồi dưỡng cho mỗi chúng ta lòng yêu quê hương, đất nước và niềm trân trọng đối với những người đã hi sinh vì Tổ quốc .
C1:
-VB cung cấp kiến thức bão,mắt bão ở Việt Nam
-Nguyên nhân tự nhiên
-Thiệt hại nặng nề do bão gây ra
C2:
Bão: có sức tàn phá lớn, thời tiết xấu
Mắt bão:bán kính nhỏ, thời tiết gần như bình yên
C3:
a) thành phần biêtj lap :Dưới sự đánh giá gió sụt giảm ở đâu
Kiểu câu trần thuật
C4 :
Triển khai nguyên nhân: chủ quan, khách quan
Trình bày logic, rõ ràng, dễ hiểu, hiệu quả
C5:
Tác dụng của phương tiện phi ngôn ngữ:
-Giúp người đọc hình dung rõ vị trí của mắt bão
-Trực quan hoá kiến thức trừu tượng
- Khẳng định thông tin chính xác
C1:rêuu mốc
C2 muỗi
Nếu sai cho tớ xl