Dương Công Chức

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Dương Công Chức
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: Thuyết minh.

Câu 2: Ba nhân vật chính: Rancho, Farhan và Raju.

Câu 3: Thành tích: Doanh thu kỷ lục tại Ấn Độ; đạt giải thưởng lớn tại Nhật Bản và đề cử quốc tế tại Trung Quốc.

- Tác dụng: Khẳng định giá trị, sức hút của bộ phim và kích thích sự tò mò của người đọc.

Câu 4: Mục đích: Giới thiệu, đánh giá cái hay của bộ phim để khơi gợi sự quan tâm và thay đổi cách nhìn của khán giả về điện ảnh Ấn Độ.

Câu 5: Bài học ứng xử với bạn bè:

- Luôn chân thành, sẵn sàng giúp đỡ và hy sinh lợi ích cá nhân vì bạn.

- Cổ vũ, truyền động lực để bạn vượt qua áp lực và theo đuổi đam mê.

- Lan tỏa năng lượng lạc quan, cùng nhau tốt lên thay vì đố kỵ.

Câu 1.

Bài làm

Nhân vật người bố trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Thuần là biểu tượng của tình yêu thương thầm lặng, thiêng liêng và đầy sự tôn trọng dành cho con cái. Dù không biết chữ, nhưng cách ông nâng niu những lá thư - "chạm tay vào con chữ", "ép vào khuôn mặt đầy râu" - cho thấy ông không đọc thư bằng mắt mà bằng cả trái tim. Hành động mặc chiếc áo phẳng phiu nhất để đi nhận thư thể hiện sự trân trọng tuyệt đối đối với những nỗ lực học tập của con. Đặc biệt, câu nói: "Chuyện bố con tôi chẳng lẽ để cho người ta đọc... Nó viết gì tôi biết cả" đã khẳng định một sợi dây liên kết tâm hồn bền chặt, vượt qua rào cản của ngôn từ. Ông lưu giữ tất cả những lá thư như giữ gìn báu vật của đời mình. Người bố ấy tuy giản dị, chân đất, vùng cao nhưng lại có một tâm hồn cao đẹp, là điểm tựa tinh thần vững chắc để người con vững bước vào đời. Qua nhân vật, tác giả ngợi ca tình phụ tử bao la, không cần lời nói vẫn ấm áp vô cùng.

Câu 2.

Bài làm

Trong thế giới tự nhiên, có những hiện tượng kỳ thú luôn khơi gợi sự tò mò của con người, và cầu vồng chính là một "bản giao hưởng" của ánh sáng và nước đầy ấn tượng.

Về bản chất, cầu vồng không phải là một vật thể hữu hình mà là một hiện tượng quang học. Nó thường xuất hiện sau những cơn mưa khi trời hửng nắng. Nguyên lý hình thành của cầu vồng dựa trên hiện tượng khúc xạ và phản xạ ánh sáng. Khi ánh sáng mặt trời (ánh sáng trắng) đi qua những giọt nước li ti còn sót lại trong không khí, chúng hoạt động như những lăng kính nhỏ. Ánh sáng bị bẻ cong, phản xạ bên trong giọt nước và tán sắc thành dải màu liên tục.

Mặc dù mắt thường chúng ta thấy cầu vồng có 7 màu cơ bản (đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím), nhưng thực tế đó là một dải màu chuyển tiếp vô tận. Hình dáng của cầu vồng mà chúng ta quan sát được thường là một cung tròn, nhưng nếu nhìn từ máy bay hoặc đỉnh núi cao, cầu vồng thực chất là một đường tròn hoàn chỉnh. Đôi khi, khi điều kiện ánh sáng đặc biệt, ta còn có thể thấy "cầu vồng kép" (hai cầu vồng cùng lúc) do ánh sáng bị phản xạ hai lần bên trong giọt nước.

Cầu vồng không chỉ là một hiện tượng khoa học thuần túy mà còn mang giá trị thẩm mỹ và biểu tượng. Trong nhiều nền văn hóa, nó tượng trưng cho sự hy vọng, hòa bình và là cầu nối giữa đất và trời. Việc hiểu rõ cơ chế khoa học của cầu vồng không làm mất đi vẻ đẹp huyền ảo của nó, ngược lại còn giúp chúng ta thêm trân trọng sự kỳ diệu của thiên nhiên và những quy luật vật lý quanh mình.

Tóm lại, cầu vồng là một minh chứng tuyệt vời cho sự kết hợp hoàn hảo giữa ánh sáng và bóng tối, giữa nước và nắng, mang lại vẻ đẹp rực rỡ cho bầu trời sau mỗi cơn giông tố.

Bài làm

Trong dòng chảy của thơ ca kháng chiến chống Pháp, nếu "Tây Tiến" của Quang Dũng mang vẻ đẹp hào hùng, lãng mạn, thì "Bộ đội về làng" của Hoàng Trung Thông lại chạm đến trái tim người đọc bằng sự giản dị, ấm áp của tình quân dân. Đoạn trích bài thơ đã khắc họa thành công chủ đề về sự gắn bó máu thịt giữa những người chiến sĩ và nhân dân lao động, qua đó thể hiện sức mạnh tinh thần to lớn của dân tộc ta những năm tháng gian khổ.

Chủ đề xuyên suốt đoạn trích là ngợi ca tình quân dân thắm thiết như cá với nước. Hình ảnh bộ đội trở về không chỉ là một sự kiện quân sự mà đã trở thành một ngày hội của làng quê. Ngay từ những câu thơ đầu, tác giả đã tái hiện một bầu không khí náo nức, tràn đầy sức sống. Sự hiện diện của "các anh" đã mang theo "mái ấm nhà vui", làm "rộn ràng" cả một xóm nhỏ vốn tĩnh lặng. Niềm vui ấy lan tỏa đến mọi thế hệ, từ "lớp lớp đàn em hớn hở" đến người "mẹ già bịn rịn áo nâu". Chữ "bịn rịn" được dùng rất đắc địa, nó vừa gợi lên sự xúc động nghẹn ngào, vừa diễn tả tình cảm yêu thương che chở của người mẹ dành cho những đứa con đi chiến đấu từ "rừng sâu mới về".

Bên cạnh tình cảm gia đình hóa, bài thơ còn làm nổi bật vẻ đẹp của sự đồng cam cộng khổ. Dù hoàn cảnh "làng tôi nghèo", "mái lá nhà tre", cuộc sống còn nhiều thiếu thốn nhưng tấm lòng của người dân lại luôn "rộng mở". Hình ảnh "nồi cơm nấu dở" hay "bát nước chè xanh" là những chi tiết cực kỳ đắt giá. Nó gợi lên sự chân chất, mộc mạc và sự sẵn lòng nhường cơm sẻ áo của nhân dân. Những câu chuyện "tâm tình bên nhau" đã xóa tan mọi khoảng cách, biến bộ đội và dân làng trở thành người thân trong một gia đình lớn. Đó chính là cội nguồn của sức mạnh giúp ta chiến thắng kẻ thù.

Về nghệ thuật, Hoàng Trung Thông đã chọn ngôn ngữ thơ bình dị, gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày. Cách ngắt nhịp linh hoạt, khi dồn dập rộn rã (Các anh về/ Mái ấm nhà vui), khi chậm rãi bồi hồi (Ngồi vui kể chuyện tâm tình bên nhau) đã tạo nên nhạc điệu vui tươi, phấn khởi. Việc sử dụng các từ láy như "rộn ràng", "tưng bừng", "hớn hở", "xôn xao" không chỉ miêu tả âm thanh mà còn lột tả được trạng thái tâm lý náo nức của cả một cộng đồng.

Hơn nữa, bút pháp hiện thực kết hợp với cảm hứng lãng mạn cách mạng đã giúp tác giả xây dựng được những hình ảnh thơ vừa chân thực vừa giàu sức gợi. Hình ảnh "áo nâu" của mẹ hòa quyện với màu xanh của bộ đội tạo nên một bức tranh màu sắc hài hòa, ấm áp tình quê hương.

Tóm lại, đoạn trích "Bộ đội về làng" là một bài ca đẹp về tình quân dân. Qua những vần thơ của Hoàng Trung Thông, ta thấy hiện lên hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ thật gần gũi, giản dị và một hậu phương vững chắc, giàu lòng vị tha. Bài thơ không chỉ có giá trị lịch sử về một thời kháng chiến mà còn là bài học về lòng biết ơn và sự gắn kết cộng đồng vẫn còn nguyên giá trị cho đến hôm nay.

Câu 1. Thông tin chính của văn bản: Văn bản cung cấp những kiến thức cơ bản và toàn diện về bão.

Câu 2. Sự khác nhau giữa bão và mắt bão:

- Bão: Là trạng thái nhiễu động mạnh của khí quyển, thời tiết cực đoan, gió rít mạnh kèm mưa lớn, có sức phá hoại khủng khiếp.

- Mắt bão: Nằm ở chính giữa trung tâm, thời tiết đa phần bình yên, gió không lớn, trời quang mây tạnh.

Câu 3.

a. Thành phần biệt lập: Thành phần chú thích: "(mắt bão lỗ kim)".

b. Kiểu câu theo mục đích nói: Câu trần thuật (dùng để kể, xác nhận một sự thật về hậu quả của bão).

Câu 4. Cách triển khai thông tin và hiệu quả:

- Cách triển khai: Tác giả triển khai theo mối quan hệ nguyên nhân – kết quả và chia thành hai nhóm đối tượng (nguyên nhân chủ quan từ con người và nguyên nhân khách quan từ tự nhiên).

- Hiệu quả: Giúp thông tin trở nên hệ thống, logic, dễ hiểu; giúp người đọc nhận thức rõ trách nhiệm của con người trong việc biến đổi khí hậu bên cạnh các quy luật tự nhiên.

Câu 5. Tác dụng của phương tiện phi ngôn ngữ:

- Tác dụng: Giúp cụ thể hóa các khái niệm trừu tượng, tăng tính xác thực, sinh động và giúp người đọc dễ dàng hình dung quy mô, cường độ của bão một cách trực quan hơn.

Chào bạn, dựa trên văn bản về bão mà bạn cung cấp, dưới đây là các gợi ý trả lời ngắn gọn và chính xác cho các câu hỏi:



Câu 6. Đoạn văn về giải pháp hạn chế ảnh hưởng của bão: Để hạn chế những hậu quả tàn khốc của bão, mỗi người trẻ chúng ta cần chủ động trang bị kiến thức về phòng chống thiên tai và kỹ năng sinh tồn cơ bản. Trước hết, chúng ta cần bảo vệ môi trường, trồng cây gây rừng và giảm thiểu rác thải nhựa để góp phần ngăn chặn biến đổi khí hậu – nguyên nhân khiến bão ngày càng khắc nghiệt. Bên cạnh đó, việc thường xuyên theo dõi dự báo thời tiết và tuân thủ nghiêm ngặt các chỉ dẫn sơ tán của chính quyền là điều vô cùng quan trọng. Mỗi cá nhân cũng nên là một tuyên truyền viên tích cực để nâng cao ý thức cộng đồng trong việc chằng chống nhà cửa, bảo vệ tài sản trước mùa mưa bão. Chỉ khi có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và ý thức trách nhiệm cao, chúng ta mới có thể giảm thiểu tối đa những tổn thất về người và của do bão gây ra.

Câu 1. Văn bản bàn về vẻ đẹp của bức tranh mùa gặt ở nông thôn miền Bắc và tâm hồn, tình cảm của người nông dân được thể hiện qua bài thơ của Nguyễn Duy.

Câu 2. Câu văn nêu luận điểm trong đoạn (3): "Chưa hết, không gian mùa gặt không chỉ được mở ra trên những cánh đồng ban ngày, nó còn hiện lên ở trong thôn xóm buổi đêm: 'Mảnh sân trăng lúa chất đầy/ Vàng tuôn trong tiếng máy quay xập xình'."

Câu 3. Xác định thành phần biệt lập

a. Thành phần tình thái: "hình như".

b. Thành phần gọi - đáp: "người ơi".

Câu 4. Cách trích dẫn bằng chứng và tác dụng trong đoạn (2):

-Cách trích dẫn:

+ Trích dẫn trực tiếp từ ngữ: "phả", "cánh cò dẫn gió", "liếm ngang chân trời".

+Trích dẫn nguyên câu/ý thơ để phân tích.

-Tác dụng: Giúp việc lập luận trở nên thuyết phục, giàu tính xác thực; đồng thời làm nổi bật sự tinh tế trong cách dùng từ và khả năng quan sát của nhà thơ Nguyễn Duy.

Câu 5. Vai trò của lí lẽ và bằng chứng trong đoạn (4):

-Lí lẽ: Chỉ ra sự đối lập giữa niềm vui náo nức và tâm trạng "lo xa", "cả nghĩ" của người nông dân.

-Bằng chứng: Các câu thơ về việc nâng niu hạt gạo ("hạt rụng hạt rơi xót lòng", "phơi cho giòn").

-Vai trò: Làm sáng tỏ luận điểm: Người nông dân không chỉ tận hưởng thành quả mà còn vô cùng trân trọng, thấu hiểu giá trị của lao động ("của một đồng, công một nén") và có sự gắn kết máu thịt với "đời lúa".

Câu 6. Điều em thích nhất trong nghệ thuật nghị luận của tác giả:

-Em thích nhất cách kết hợp giữa tư duy logic và cảm xúc bay bổng (văn phong giàu hình ảnh).

-Vì : Tác giả Trần Hòa Bình không chỉ phân tích khô khan mà còn dùng những từ ngữ rất gợi cảm (như "không gian mở ra", "nhịp máy rộn ràng") để dẫn dắt người đọc thâm nhập vào hồn cốt của bài thơ. Cách bình giảng này khiến văn bản nghị luận trở nên mềm mại, dễ đi vào lòng người và khơi gợi được sự đồng cảm về vẻ đẹp quê hương.


Bài làm

Phong Điệp là một cây bút tiêu biểu của văn học hiện đại Việt Nam với phong cách trần thuật nhẹ nhàng, khách quan nhưng lại chạm đến những góc khuất đầy cảm xúc của đời sống. Truyện ngắn '' Bát phở'' là một tác phẩm như vậy. Chỉ qua một tình huống rất đỗi đời thường nơi quán phở, tác giả đã khéo léo khắc họa một bức tranh nhân văn sâu sắc về tình cha con và những nhọc nhằn nơi phố thị.

Chủ đề của ''Bát phở'' xoay quanh tình yêu thương, sự hy sinh thầm lặng của những người cha nông dân dành cho con cái. Trong mắt người cha, bát phở không chỉ là món ăn sáng bình thường, mà là sự chắt chiu, là tình yêu lớn lao. Họ lo lắng về chi phí phòng trọ, về tiền ăn, tiền học, sẵn sàng '' bóp bụng'' để con được ăn ngon. Đáp lại tấm lòng ấy, những đứa con không hề hời hợt. Chúng ngồi lặng lẽ, không dám khen '' phở ngon quá'' vì thấu hiểu được nỗi vất vả của cha. Sự im lặng ấy không chỉ là khoảng cách, mà là một sự giao cảm tuyệt vời giữa tâm hồn cùng chia sẻ nỗi lo toan. Đó là vẻ đẹp của tình hiếu thảo và lòng nhân ái.

Về nghệ thuật, ''Bát phở'' ghi điểm nhờ điểm nhìn trần thuật khách quan từ nhân vật ''tôi''. Người kể truyện không can thiệp, không phán xét, chỉ quan sát và ghi chép lại những gì mình chứng kiến. Chính sự ''nhẹ nhõm, dưng dưng'' trong cách kể đã khiến câu chuyện trở nên chân thực và lấy đi nước mắt người đọc một cách tự nhiên nhất. Các chi tiết nghệ thuật được tác giả sử dụng cực kỳ đắt giá. Hình ảnh người cha đếm từng đồng tiền lẻ, từ ''hai nghìn, năm nghìn, mười nghìn'' như cứa vào lòng người đọc sự xót xa cho sự khốn khó của người nông dân. Những bộ quần áo đã sờn màu, gương mặt âu lo của những đứa con trước những ''nẻo đường ngổn ngang phía trước'' chính là hiện thực sống động mà Phong Điệp muốn gửi gắm. Ngôn ngữ văn xuôi của bà không dùng nhiều từ ngữ hoa mỹ, mà đi thẳng vào lòng người bằng những câu văn miêu tả sắc sảo, ngắn gọn nhưng đầy sức nặng.

Kết thúc tác phẩm, câu văn ''Cuộc đời này, chúng sợ những người cha hơn thế nhiều...'' như một tiếng thở dài đầy suy ngẫm, để lại dư âm dai dẳng trong tâm trí người đọc. ''Bát phở'' của Phong Điệp đã khẳng định rằng, trong những điều giản dị nhất của đời thường, ta vẫn luôn tìm thấy những giá trị thiêng liêng vè tình thân và sự hy sinh cao cả của con người. Tác phẩm nhắc nhở mỗi chúng ta cần biết trân trọng những gì đấng sinh thành đã hy sinh để ta có được ngày hôm nay.