Triệu Thị Hương Giang
Giới thiệu về bản thân
Đạo đức sinh học là gì? Đạo đức sinh học (Bioethics) là hệ thống các quy tắc ứng xử, nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức được áp dụng trong nghiên cứu và ứng dụng những thành tựu của khoa học sinh học vào thực tiễn. Nó nhằm định hướng hành vi của con người sao cho phù hợp với các giá trị đạo đức xã hội, đặc biệt là khi tác động trực tiếp đến sự sống và sức khỏe. 2. Tại sao cần quan tâm đặc biệt đến đạo đức sinh học trong công nghệ di truyền? Việc quan tâm đến đạo đức sinh học trong nghiên cứu và ứng dụng công nghệ di truyền là cực kỳ quan trọng vì: Nguy cơ ảnh hưởng đến con người và môi trường: Các sinh vật biến đổi gene (GMO) có thể gây ra những rủi ro khó lường cho hệ sinh thái và sức khỏe con người nếu không được kiểm soát chặt chẽ. Vi phạm quyền tự nhiên và nhân phẩm: Các nghiên cứu can thiệp vào hệ gene người (như chỉnh sửa gene phôi thai) có thể vi phạm các tiêu chuẩn đạo đức, gây ra sự phân biệt đối xử hoặc làm thay đổi bản chất tự nhiên của giống nòi. Hậu quả đối với động vật: Việc tác động vào hệ gene của động vật có thể gây ra sự đau đớn, dị tật hoặc những biến đổi tiêu cực đối với đời sống của chúng. Sự an toàn và trách nhiệm xã hội: Cần có khung đạo đức để đảm bảo các thành tựu khoa học chỉ được sử dụng cho mục đích hòa bình, nhân đạo và không bị lạm dụng cho các mục đích phi nghĩa (ví dụ: vũ khí sinh học).
Về biến dị: Lamarck cho rằng hươu cổ ngắn chủ động vươn cổ để ăn lá trên cao khiến cổ dài ra (tập quán hoạt động). Ngược lại, Darwin cho rằng trong quần thể hươu ban đầu đã có sẵn các biến dị di truyền khác nhau (con cổ dài, con cổ ngắn). Về cơ chế tiến hóa: Lamarck tin vào sự di truyền các đặc tính thu được trong đời sống cá thể (cổ dài ra do vươn thì đời con sẽ có cổ dài). Darwin khẳng định sự tiến hóa thông qua chọn lọc tự nhiên: những con có biến dị cổ dài có lợi thế kiếm ăn sẽ sống sót và sinh sản tốt hơn. Về vai trò môi trường: Với Lamarck, môi trường thay đổi khiến sinh vật phải chủ động thay đổi để thích nghi. Với Darwin, môi trường đóng vai trò là bộ lọc, đào thải những cá thể có biến dị không phù hợp (cổ ngắn) và giữ lại những cá thể có biến dị phù hợp (cổ dài). Kết quả: Qua nhiều thế hệ, Darwin cho rằng các biến dị có lợi được tích lũy dần dần, dẫn đến sự hình thành loài hươu cao cổ như ngày nay.
dung phân biệt Nguyên phân Giảm phân Tế bào thực hiện phân bào Tế bào sinh dưỡng và tế bào sinh dục sơ khai. Tế bào sinh dục ở giai đoạn chín. Kết quả phân bào từ một tế bào mẹ ( ) Tạo ra 2 tế bào con. Tạo ra 4 tế bào con. Số lượng NST trong tế bào con Giữ nguyên bộ NST lưỡng bội ( ). Giảm đi một nửa, còn bộ NST đơn bội ( ). Các tế bào con có bộ NST giống hay khác tế bào mẹ Giống hệt tế bào mẹ. Khác tế bào mẹ (chỉ chứa một nửa số NST).
Nguyên phân: Giúp cơ thể lớn lên, thay thế các tế bào già, chết và là hình thức sinh sản của các loài sinh vật đơn bào. Giảm phân: Kết hợp với thụ tinh và nguyên phân để duy trì bộ NST đặc trưng của loài qua các thế hệ ở các loài sinh sản hữu tính.