Phạm Thị Phương Thủy

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Phạm Thị Phương Thủy
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1.Bài thơ được viết theo thể thơ tự do.

Câu 2.Người bộc lộ cảm xúc là nhân vật “tôi” – người con.

Đó là cuộc gặp gỡ giữa người con và mẹ trong một đêm trở về nhà đầy xúc động.

Câu 3.Biện pháp tu từ: so sánh (“hơn nhiều chăn đệm”)

Tác dụng: Nhấn mạnh hơi ấm của ổ rơm không chỉ là hơi ấm vật chất mà còn là hơi ấm của tình mẹ, làm nổi bật giá trị tinh thần sâu sắc ẩn sau sự giản dị.

Câu 4.Hình ảnh “ổ rơm” là hình ảnh trung tâm của bài thơ. Đó là hình ảnh mộc mạc, nghèo khó nhưng chứa đựng tình yêu thương bao la của người mẹ. “Ổ rơm” vì thế trở thành biểu tượng của tình mẫu tử và vẻ đẹp bình dị của làng quê.

Câu 5: Cảm hứng chủ đạo là niềm xúc động sâu sắc và lòng biết ơn chân thành trước tình người ấm áp, sự chở che của nhân dân (mà đại diện là bà mẹ nghèo) đối với người chiến sĩ trong những năm tháng kháng chiến.

Câu 6: Bài thơ "Hơi ấm ổ rơm" của Nguyễn Duy đã để lại trong lòng người đọc những dư âm ngọt ngào về tình người trong hoạn nạn. Giữa đêm đông lạnh lẽo nơi đồng chiêm, nhân vật "tôi" đã tìm thấy một điểm tựa ấm áp không phải từ nhung gấm, mà từ một "ổ rơm" bình dị. Hình ảnh bà mẹ nghèo tận tình lo chỗ ngủ, tỉ mỉ lót rơm cho người khách lạ đã chạm đến những rung cảm thiêng liêng nhất của lòng trắc ẩn. Qua ngòi bút tài hoa, ổ rơm hiện lên vừa thực với "hương mật ong của ruộng", vừa huyền ảo như một cái kén bao bọc tâm hồn người chiến sĩ. Bài thơ không chỉ ngợi ca vẻ đẹp của làng quê mà còn là lời tri ân sâu sắc tới những tấm lòng nhân hậu, mộc mạc của nhân dân. Đọc tác phẩm, ta thêm trân trọng những giá trị giản đơn nhưng bền vững, thứ "hơi ấm nồng nàn" mà không tiền bạc nào có thể mua được.

Trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại, Thạch Lam được ví như một cơn gió mát lành, khơi gợi những rung động tinh tế và sâu kín nhất trong tâm hồn con người. Nếu trong Nhà mẹ Lê, ông viết về cái đói khổ bằng tình thương xót, thì ở truyện ngắn Trở về, ông lại trực diện xoáy sâu vào sự tha hóa của lòng người trước cám dỗ của chốn phồn hoa. Đoạn trích kể về cuộc gặp gỡ sau sáu năm giữa nhân vật Tâm và mẹ đã để lại dư vị đắng chát về sự bạc bẽo, đối lập gay gắt giữa một tấm lòng bao dung và một trái tim đã chai sạn.

Chủ đề của tác phẩm tập trung phản ánh sự rạn nứt trong tình cảm gia đình trước sức mạnh của lối sống vật chất thành thị. Ngay từ giây phút đầu tiên bước chân về nhà, không gian hiện lên qua đôi mắt của Tâm đầy sự xa lạ và cũ kỹ: "Cái nhà cũ vẫn như trước... sụp thấp hơn một chút và mái gianh xơ xác hơn". Đối với Tâm, ngôi nhà tuổi thơ giờ đây chỉ là biểu tượng của sự nghèo nàn, ẩm thấp, trái ngược hoàn toàn với cuộc sống "chắc chắn, giàu sang" mà anh đang có ở thành phố.

Sự bạc bẽo của Tâm được khắc họa rõ nét qua thái độ đối với người mẹ già tần tảo. Khi mẹ nhận ra con và ứa nước mắt vì xúc động, Tâm đáp lại bằng một câu hỏi xã giao khô khốc: "Vâng, chính tôi đây, bà vẫn được mạnh khỏe đấy chứ?". Cách xưng hô "tôi - bà" và sự lúng túng khi nói lời hỏi thăm cho thấy một khoảng cách vô hình nhưng ghê gớm đã hình thành. Trong khi bà cụ vẫn trân trọng từng kỷ niệm, vẫn lo lắng khôn nguôi khi nghe tin con ốm ở tỉnh xa, thì Tâm lại "dửng dưng không để ý đến". Những câu chuyện làng quê, những sự quan tâm của mẹ chỉ khiến Tâm cảm thấy "khó chịu""nhạt dần". Anh coi thường cội nguồn, coi thường cả những người vẫn âm thầm nhắc đến mình như cô Trinh. Đỉnh điểm của sự tha hóa là hành động rút tiền đưa cho mẹ với thái độ "hơi kiêu ngạo": "Đúng hai chục, bà cầm lấy mà tiêu". Với Tâm, tiền bạc đã thay thế cho tình thâm, anh dùng tiền để mua sự an tâm cho lương tâm đang lụi tắt của mình.

Về nghệ thuật, Thạch Lam đã phát huy tối đa thế mạnh của lối viết trữ tình hướng nội. Tác giả không dùng những xung đột gay gắt, mà dùng những chi tiết nhỏ để gợi lên sự tinh tế của cảm giác. Đó là tiếng guốc thong thả của mẹ, là mùi ẩm thấp của tường vôi, hay cái nhún vai hững hờ của Tâm. Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua lời thoại và hành vi cho thấy sự thấu thị của nhà văn: bà mẹ hiện lên với vẻ đẹp bao dung, nhẫn nại đặc trưng của phụ nữ nông thôn; còn Tâm lại là đại diện cho một bộ phận trí thức thành thị sớm quên đi gốc rễ.

Hình ảnh bà cụ "run run đỡ lấy gói bạc, rơm rớm nước mắt" khi tiễn con vội vàng ra đi là một chi tiết đắt giá, khép lại đoạn trích bằng một nỗi đau câm lặng. Giọt nước mắt ấy không chỉ là niềm vui được gặp con, mà còn là nỗi buồn đau đớn khi nhận ra đứa con mình nuôi nấng nay đã trở thành một "người lạ" có tiền.

Đoạn trích truyện ngắn Trở về là một lời cảnh tỉnh sâu sắc về đạo làm người. Qua ngòi bút tài hoa của Thạch Lam, chúng ta nhận ra rằng: sự giàu sang có thể thay đổi vị thế của một con người, nhưng nếu để nó làm xói mòn đi tình cảm gia đình và lòng biết ơn, thì sự giàu sang đó chỉ là một sự nghèo nàn về nhân cách. Bài văn "tả cảnh quê hương" hay nhất của mỗi người chính là cách họ đối đãi với đấng sinh thành khi trưởng thành.

Tam giác \(A B C\) cân tại \(A\) nên \(A B = A C = 12\) cm.

Xét tam giác \(A B C\), áp dụng tính chất tia phân giác ta có:

\(\frac{A D}{D B} = \frac{A C}{C B} = \frac{12}{6} = 2\)

Suy ra \(\frac{A D}{A B} = \frac{2}{3}\) suy ra \(A D = \frac{2}{3} . 12 = 8\) (cm)

Do đó, \(D B = 12 - 8 = 4\) (cm).

Xét tam giác \(A B C\), áo dụng tính chất tia phân giác trong tam giác, ta có: 

\(\frac{A M}{M B} = \frac{A C}{C B} = \frac{A B}{C B} = \frac{A N}{N C} \left(\right. = \frac{b}{a} \left.\right)\)

Vậy \(M N\) // \(B C\) (Định lí đảo của định lí Thalès)

Suy ra \(\frac{M N}{B C} = \frac{A M}{A B} = \frac{b}{b + a}\) (Định lí Thalès)

Vậy nên \(M N = \frac{a b}{a + b} .\)

Trong dòng chảy của văn học trung đại Việt Nam, tiếng cười trào phúng thường không chỉ để mua vui mà còn là một cách nói sâu cay về hiện thực và con người. Với Nguyễn Khuyến – Tam nguyên Yên Đổ, tiếng cười ấy lại càng đặc biệt bởi nó luôn gắn với nỗi buồn thời thế và sự tự ý thức đau đớn của một trí thức lớn. Trong bài thơ Tự trào, ông từng chua chát thừa nhận:
“Nghĩ mình cũng gớm cho mình nhỉ,
Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng.”
Từ cái nhìn tự giễu ấy, Nguyễn Khuyến đã mở rộng ngòi bút để phê phán cả một tầng lớp, một nền học vấn đã suy tàn. Tiến sĩ giấy chính là bài thơ tiêu biểu cho cảm hứng ấy: một tác phẩm trào phúng sắc sảo, nơi tiếng cười hài hước hòa quyện với cái bi thấm thía, phản ánh sự khủng hoảng của khoa cử và bi kịch của lớp nho sĩ cuối mùa trong xã hội thực dân nửa phong kiến.

Bài thơ được sáng tác trong bối cảnh Nho học đã mất dần vị thế độc tôn. Khi đồng tiền và quyền lực có thể chi phối mọi giá trị, danh hiệu “tiến sĩ” – biểu tượng cao nhất của học vấn phong kiến – không còn gắn chặt với tài năng và đạo đức. Nguyễn Khuyến đã mượn hình ảnh ông tiến sĩ giấy, một thứ đồ chơi dân gian trong dịp Trung thu, để dựng nên một bức tranh trào phúng đầy ý nghĩa về thực trạng ấy.

Ngay từ hai câu đề, nhà thơ đã khắc họa vẻ ngoài tưởng như rất đỗi uy nghi của nhân vật trào phúng:
“Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,
Cũng gọi ông nghè có kém ai.”

Hàng loạt chi tiết thuộc nghi lễ khoa bảng như cờ, biển, cân, đai được liệt kê đầy đủ, gợi lên hình ảnh một ông nghè vinh quy bái tổ, oai phong, bề thế. Tuy nhiên, điệp từ “cũng” lặp lại liên tiếp đã làm nảy sinh một sắc thái mỉa mai kín đáo. “Cũng” nghĩa là giống, là na ná, là bắt chước, chứ không khẳng định giá trị thực. Cụm từ “có kém ai” càng bộc lộ tâm thế tự mãn, khoe khoang, khiến hình ảnh ông nghè hiện lên không phải bằng sự kính trọng mà bằng ánh nhìn nghi ngờ. Ngay từ đầu, Nguyễn Khuyến đã gieo vào lòng người đọc một cảm giác bất ổn: vẻ ngoài ấy tuy đủ đầy nhưng dường như chỉ là cái vỏ.

Sang hai câu thực, bản chất của nhân vật được phơi bày rõ ràng:
“Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,
Nét son điểm rõ mặt văn khôi.”

Chỉ bằng hai câu thơ, Nguyễn Khuyến đã lật tẩy toàn bộ sự giả tạo. “Thân giáp bảng” – lẽ ra là con người đỗ đạt, ghi danh bảng rồng – hóa ra chỉ được “làm nên” từ mảnh giấy. “Mặt văn khôi” – biểu tượng của người đứng đầu giới văn chương – lại chỉ cần vài nét son là đủ. Nghệ thuật đối được sử dụng cực kì đắt giá: cái cao quý đặt cạnh cái tầm thường, cái thiêng liêng đặt cạnh cái rẻ rúng. Qua đó, nhà thơ cho thấy việc tạo ra một ông tiến sĩ “giả” dễ dàng đến mức nào, đồng thời gián tiếp châm biếm sự xuống cấp của khoa cử đương thời: danh vị tiến sĩ không còn phản ánh thực học, mà chỉ là sản phẩm của hình thức, son phấn và giấy má.

Đến hai câu luận, giọng thơ chuyển hẳn sang đánh giá, mỉa mai trực diện hơn:
“Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?
Cái giá khoa danh ấy mới hời!”

Những từ cảm thán “sao mà nhẹ”, “ấy mới hời” khiến khoa danh trở thành một món hàng có thể đem ra cân đo, mặc cả. Ngày xưa, người đỗ đạt khoác áo mũ triều đình là gánh trên vai trách nhiệm nặng nề với dân, với nước; còn nay, “tấm thân xiêm áo” lại nhẹ bẫng, bởi bên trong rỗng tuếch. Câu thơ không chỉ là lời châm biếm những kẻ mua danh bán tước, mà còn hàm chứa nỗi ngậm ngùi của chính Nguyễn Khuyến – một người có học vấn thật, từng đạt đến đỉnh cao khoa bảng nhưng lại cảm thấy bất lực trước thời cuộc, thấy danh hiệu mình mang cũng trở nên lạc lõng.

Hai câu kết dồn nén và bung ra tiếng cười trào phúng sắc lạnh nhất:
“Ghế tréo, lọng xanh ngồi bảnh choẹ,
Nghĩ rằng đồ thật, hoá đồ chơi!”

Hình ảnh ghế tréo, lọng xanh tiếp tục nhấn mạnh vẻ ngoài oai vệ của ông tiến sĩ. Thế nhưng, từ láy “bảnh choẹ” đã phá tan tất cả sự trang nghiêm ấy, biến nhân vật thành một hình nộm lố bịch, trơ trẽn. Đỉnh điểm là câu thơ cuối: cái từng được tưởng là thật, là cao quý, hóa ra chỉ là đồ chơi trẻ con. Tiếng cười bật ra, nhưng đó là tiếng cười cay đắng, vạch trần sự thật đau lòng về một nền khoa cử đã mất hết ý nghĩa.

Về nghệ thuật, Tiến sĩ giấy là minh chứng tiêu biểu cho bút pháp trào phúng gián tiếp, thâm trầm của Nguyễn Khuyến. Ông không đả kích trực diện mà tạo tiếng cười từ sự đối lập giữa hình thức và bản chất. Việc sử dụng điệp từ “cũng”, phép đối sắc sảo, cùng với ngôn ngữ khẩu ngữ đời thường như “có kém ai”, “sao mà nhẹ”, “bảnh choẹ” đã phá vỡ tính ước lệ của thơ Đường luật, khiến bài thơ vừa gần gũi vừa giàu sức công phá hiện thực. Đặc biệt, hình tượng tiến sĩ giấy mang tính biểu tượng cao, có khả năng khái quát một hiện tượng xã hội rộng lớn.

Từ phương diện nghệ thuật ấy, có thể mở rộng để thấy rằng tiếng cười trong thơ Nguyễn Khuyến không thuần túy là cái hài mà luôn bị cái bi lấn át. So với Tú Xương – người cũng viết Tiến sĩ giấy nhưng chửi thẳng, chửi gắt từ vị thế “người ngoài cuộc” – Nguyễn Khuyến trào phúng trong tư thế của người trong cuộc, vừa phê phán xã hội vừa tự phản tỉnh bản thân. Bởi vậy, hình tượng tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến mang chiều sâu bi kịch: đó không chỉ là lời chê cười kẻ hữu danh vô thực, mà còn là nỗi đau của một trí thức lớn trước sự sụp đổ của những giá trị mà mình từng tin tưởng.

Tiến sĩ giấy là một tác phẩm trào phúng xuất sắc, kết tinh tài năng nghệ thuật và chiều sâu tư tưởng của Nguyễn Khuyến. Qua tiếng cười hài hước mà cay đắng, nhà thơ đã phơi bày sự suy tàn của nền khoa cử phong kiến, đồng thời bộc lộ bi kịch của lớp nho sĩ cuối mùa – những con người có học vấn nhưng bất lực trước thời đại. Chính sự hòa quyện giữa cái hài và cái bi ấy đã làm cho bài thơ vượt khỏi giới hạn thời gian, trở thành lời cảnh tỉnh có giá trị lâu dài về những danh hiệu rỗng và những giá trị giả tạo trong bất cứ xã hội nào.

Em đồng ý với ý kiến cho rằng tiếng cười cũng có sức mạnh như một thứ vũ khí. Bởi tiếng cười không chỉ mang lại niềm vui mà còn chứa đựng sức mạnh phê phán sâu sắc đối với cái xấu, cái chưa đẹp trong cuộc sống. Thông qua châm biếm, mỉa mai, tiếng cười giúp vạch trần những thói hư tật xấu, khiến con người phải tự nhìn lại bản thân. Tiếng cười vì thế vừa sắc bén, vừa nhân văn, góp phần thanh lọc xã hội và hướng con người tới những giá trị Chân - Thiện - Mỹ.

Em đồng ý với ý kiến cho rằng tiếng cười cũng có sức mạnh như một thứ vũ khí. Bởi tiếng cười không chỉ mang lại niềm vui mà còn chứa đựng sức mạnh phê phán sâu sắc đối với cái xấu, cái chưa đẹp trong cuộc sống. Thông qua châm biếm, mỉa mai, tiếng cười giúp vạch trần những thói hư tật xấu, khiến con người phải tự nhìn lại bản thân. Tiếng cười vì thế vừa sắc bén, vừa nhân văn, góp phần thanh lọc xã hội và hướng con người tới những giá trị Chân - Thiện - Mỹ.

Topic 2: At New Year, my family has many meaningful traditions. Before Tet, we clean and decorate the house together. On the first day of the year, we wear new clothes and visit relatives to give good wishes. We also gather to enjoy traditional food like bánh chưng. These customs help our family feel closer and start a happy new year.

1. The Muong earn a living by farming and raising animals.

2.They are in the habit of exercising after work.

1. If you don’t drink more water, you will get more acne.

2. My sister wants to see the terraced fields, so she is going to Sa Pa.

3. Unless he spends time on his phone, he will complete his work.