Nguyễn Vũ Ngân Hà

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Vũ Ngân Hà
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

TỰ TRÀO ( NGUYỄN KHUYẾN )

Nguyễn Khuyến là một trong những đại thi hào của văn học trung đại Việt Nam, được mệnh danh là “nhà thơ của làng cảnh Việt Nam”. Bên cạnh vẻ đẹp trong trẻo, tinh tế của chùm thơ thu, ông còn nổi bật với những bài thơ trào phúng và tự trào sâu sắc. Cuộc đời Nguyễn Khuyến gắn liền với giai đoạn lịch sử đầy biến động: triều đình phong kiến suy tàn, đất nước rơi vào tay thực dân Pháp. Trong hoàn cảnh ấy, tiếng cười của ông không phải tiếng cười mua vui, mà là tiếng cười của một trí thức đau đời, tự giễu mình để nói về thời cuộc. Bài thơ Tự trào là minh chứng tiêu biểu cho phong cách ấy.

Cũng chẳng giàu mà cũng chẳng sang,
Chẳng gầy chẳng béo, chỉ làng nhàng.
Cờ đương dở cuộc không còn nước
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng
Mở miệng nói ra gàn bát sách,
Mềm môi chén mãi tít cung thang.
Nghĩ mình lại ngán cho mình nhỉ,
Mà cũng bia xanh, cũng bảng vàng

Nhan đề Tự trào đã thể hiện rõ giọng điệu chủ đạo: “tự” là chính mình, “trào” là giễu cợt, châm biếm. Tự trào nghĩa là tự cười mình, tự phê bình mình bằng tiếng cười hài hước. Nhưng đằng sau đó là nỗi niềm đắng đót, là tâm sự của một nhà nho bất lực trước thời cuộc. Chính nhan đề đã mở ra toàn bộ chiều sâu nhân sinh của bài thơ: tiếng cười để che giấu nước mắt, cười mà đau đớn.

Ngay từ hai câu mở đầu, Nguyễn Khuyến đã phác họa chân dung tự họa của mình bằng giọng điệu hóm hỉnh:

Cũng chẳng giàu mà cũng chẳng sang,
Chẳng gầy chẳng béo, chỉ làng nhàng.

Với điệp cấu trúc “chẳng… mà cũng chẳng”, nhà thơ liên tục phủ định mình ở mọi phương diện: không giàu, không sang; không gầy, không béo. Tất cả thu lại ở chữ “làng nhàng” – một từ láy dân dã gợi sự tầm thường, không đặc sắc. Đây không phải sự tự hạ mình sáo rỗng, mà là tiếng cười thật lòng của một người từng đỗ đạt, từng làm quan, nay nhìn lại mình thấy chỉ còn một ông già quê bình dị. Sự đối lập giữa quá khứ vinh hiển và hiện tại vô danh khiến tiếng cười càng thêm chua chát. Qua đó, nhân cách của Nguyễn Khuyến càng cao đẹp: ông khiêm tốn, tự trọng và luôn tỉnh táo nhìn nhận bản thân giữa thời cuộc nhiễu nhương.

Đến hai câu thực, tiếng cười chuyển sang sắc thái cay đắng hơn:

Cờ đương dở cuộc không còn nước,
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng.

Hai hình ảnh ẩn dụ “ván cờ” và “ván bạc” được dùng để nói về cuộc đời và sự nghiệp. “Cờ đương dở cuộc” mà “không còn nước” là hình ảnh bế tắc, không còn đường đi, không thể tiếp tục cuộc đời hay sự nghiệp như một ván cờ đã mất đi những nước đi chiến lược; “bạc chửa thâu canh” mà đã “chạy làng” lại càng gợi sự bỏ dở, buông xuôi giữa chừng. Cụm từ “chạy làng” vốn là tiếng nói dân gian, mang sắc thái châm biếm mạnh, tựa như một lời kết tội bản thân. Nguyễn Khuyến coi việc cáo quan về quê của mình như một sự… bỏ chạy. Nhưng người đọc hiểu rằng ông không hèn nhát. Ông rời bỏ quan trường bởi chốn ấy đã mục nát đến mức không thể cứu chữa. Tiếng cười trào phúng vì thế trở thành tiếng cười bất lực, thương cho thân phận trí thức không có đất dụng võ trong cảnh nước mất nhà tan.

Hai câu luận tiếp tục đẩy tiếng cười lên cao trào:

Mở miệng nói ra gàn bát sách,
Mềm môi chén mãi tít cung thang.

“Gàn bát sách” là lời nói sách vở, giáo điều nhưng chẳng giải quyết được gì. Đó không chỉ là lời tự trách mình mà còn châm biếm cả tầng lớp nho sĩ thời bấy giờ: học nhiều, nói hay nhưng không hành động, không giúp ích được cho dân cho nước. Đối lập với lời nói triết lý là hình ảnh “mềm môi chén mãi” – sự buông mình trong men rượu để quên thực tại. Rượu của Nguyễn Khuyến đâu phải rượu vui, mà là rượu giải sầu, rượu để xoa dịu nỗi đau thế sự. Hai câu thơ vừa tự trào, vừa là lời tố cáo nhẹ nhàng nhưng sâu cay đối với một xã hội đang suy đồi về đạo lý.

Hai câu kết khép lại bài thơ bằng một nỗi ngậm ngùi sâu lắng:

Nghĩ mình lại ngán cho mình nhỉ,
Mà cũng bia xanh, cũng bảng vàng.

Tác giả tự thú nhận: “ngán cho mình”. Một đời đỗ đạt rạng rỡ, từng bước qua bao kỳ thi để đến với “bia xanh”, “bảng vàng”, vậy mà đến cuối cùng lại thành bất lực, chẳng làm được gì cho dân cho nước. Nhưng đây không phải sự tự coi thường bản thân, mà là nỗi đau của người có chí, có tài mà không gặp thời. Câu thơ chứa đựng cả bi kịch của một lớp trí thức yêu nước cuối thế kỉ XIX: tài cao mà lực bất tòng tâm.

Bài thơ Tự trào của Nguyễn Khuyến vừa kết tỉnh những giá trị nghệ thuật đặc sắc của thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật vừa in đậm dấu ấn sáng tạo của tác giả. Giọng thơ của ông vừa hài hước, tự nhiên, lại vừa thấm đẫm chiều sâu suy tư, khiến tiếng cười bật ra nhưng dư vị đọng lại là nỗi ngậm ngùi khó tả. Ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc như lời ăn tiếng nói hằng ngày, mang đậm chất dân gian, giúp cho lời tự giễu trở nên sống động và gần gũi. Những hình ảnh quen thuộc như ván cờ hay ván bạc được tác giả sử dụng như những ẩn dụ sắc bén, gợi lên sự dang dở, bế tắc trong cuộc đời và sự nghiệp. Bên cạnh đó, nghệ thuật đối lập cũng được vận dụng tinh tế, đối lập giữa giàu – sang, gầy – béo, giữa lời nói sách vở và chén rượu buông thả, giữa vinh quang quá khứ và thực tại bất lực, nhấn mạnh sắc thái châm biếm sâu cay. Nhờ sự kết hợp hài hòa giữa giọng điệu, ngôn ngữ, hình ảnh và đối lập nghệ thuật, bài thơ đã tạo nên tiếng cười vừa gần gũi vừa đắng đót, phản ánh chân thực tâm trạng của một người trí thức đau đời nhưng giàu lòng tự trọng.

Tự trào không chỉ là lời tự giễu về bản thân Nguyễn Khuyến, mà còn là tiếng thở dài cho cả một thời đại. Qua tiếng cười tự trào, ta thấy một tấm lòng trung thực, một nhân cách cao đẹp và một nỗi đau thầm kín của người trí thức yêu nước. Bài thơ vì vậy mang giá trị nhân văn sâu sắc, đồng thời thể hiện rõ bản lĩnh và tấm lòng của Nguyễn Khuyến trước biến cố lịch sử.

Em đồng tình với ý kiến cho rằng tiếng cười cũng có sức mạnh như một thứ vũ khí chống lại cái chưa hay, chưa đẹp. Tiếng cười được nói đến ở đây là tiếng cười trào phúng, châm biếm, mang ý nghĩa phê phán sâu sắc. Thông qua tiếng cười, con người có thể chỉ ra những thói hư tật xấu, những biểu hiện tiêu cực trong xã hội một cách nhẹ nhàng mà thấm thía. Tiếng cười giúp người bị phê phán tự nhìn lại bản thân mà không cần những lời lên án gay gắt. Nó vừa tạo sự giải trí, vừa mang giá trị giáo dục cao. Nhờ đó, cái xấu bị đẩy lùi, cái tốt đẹp được đề cao. Vì vậy, tiếng cười thực sự là một “vũ khí” tinh thần sắc bén và nhân văn.

- Từ “thiếu phụ” trong câu " Chợt một thiếu phụ bước vào với một đứa bé độ chín, mười tháng tuổi trên tay và một chú mèo con." có thể hiểu là người phụ nữ trẻ tuổi, thường để chỉ người đã lập gia đình.

- Sắc thái nghĩa của từ: trang trọng, lịch sự.  

Topic 3: Every day, I try to support my family in ways that truly make a difference. I start by taking responsibility for my own tasks - keeping my space tidy, so my parents have one less thing to worry about. I help with chores like cooking simple meals, washing the dishes, doing the laundry and mapping the floor which lightens the workload for everyone. When my parents are tired, I look after my younger siblings, play with them or help them do homework. I also try to bring positive energy into the house by staying kind ,patient and supportive. These small actions may seem simple, but together they can help create a warm, peaceful home where everyone fook cared for and appreciated.

1. The Muong earn a living by farming and raising animal.

2. They are in the habit of exercising after work.

1. drink more water, you will get more acne

2. to see the terraced fields, so she is going to Sa Pa

3. he spends time on his phone, he won't complete his work