Nguyễn Phương Nhi

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Phương Nhi
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Xét tam giác ABC có BM là phân giác góc B

AM/MC = AB/BC=b/a

Ta có:

AM/b= MC/a = AM+MC/b+a

=》AM =b²/a+b

Tương tự =》 AN =b²/a+b

Tam giác ABC đồng dạng với AMN ( vì cùng la tam giác cân)

=》 k =AM/AB =b²/(a+b) ÷ b =b/a+b

Tỉ lệ cạnh đáy:

MN/BC =k=b/a+b

=》MN = ab/a+b


Vì tam giác ABC cân tại A nên AC = AB = 12 (tính chất tam giác cân)

Xét tam giác ABC có CD là đường phân giác

=》AD/DB=AC/CB=2 (tính chất đường phân giác)

=》AD=2BD

Ta có:

AD+BD=AB

2BD+BD=AB

3BD=AB=12

BD=12÷3

BD=4(cm)

Ta có :

AB=AD+BD

=》AD= AB-BD

AD=12-4=8(cm)

Vậy AD=8(cm)

BD=4(cm)

Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ xuất sắc của nền văn học trung đại Việt Nam. Nhà thơ đã để lại nhiều bài thơ chữ Hán và chữ Nôm. Thơ ông có nhiều câu đối thể hiện một bút pháp nghệ thuật điêu luyện, kết hợp tài tình phong cách cổ điển, hàm súc và tính chất bình dị đậm đà. Bên cạnh những bài thơ bình dị, thân thuộc về cảnh sắc làng quê Việt Nam, Nguyễn Khuyến còn có những bài thơ trào phúng đặc sắc thể hiện thái độ và tâm trạng của mình trước hiện thực đảo điên của xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Nằm trong chùm thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến, bài thơ Tiến sĩ giấy mượn chuyện vịnh về một thứ đồ chơi của trẻ em, nhà thơ vừa phê phán những kẻ mang danh tiến sĩ nhưng bất tài vô dụng, vừa là lời tự trào của chua chát của chính tác giả, một nho sĩ đang bất lực trước cuộc đời.

Đối tượng được miêu tả trong bài thơ là hình ông tiến sĩ bằng giấy – một thứ đồ chơi quen thuộc của trẻ em thời xưa, giả hình ông tiến sĩ để khơi dậy lòng ham học và ý thức phấn đấu theo con đường khoa cử của trẻ em. Tuy nhiên trong bài thơ, “giấy” không chỉ để gợi tả về chất liệu mà còn khiến người đọc liên tưởng đến tính chất hư vinh. Bởi vậy, đặt tên tác phẩm là “Tiến sĩ giấy”, Nguyễn Khuyến đã ngụ ý phê phán một cách khéo léo tính chất hư danh của học vị tiến sĩ trong thời buổi Hán học đang dần suy tàn.

Hình tượng ông tiến sĩ giấy hiện lên với nét phác họa khái quát nhất qua hai câu thơ đề:

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai
Cũng gọi ông nghè có kém ai.

Đối tượng Nguyễn Khuyến miêu tả có “cờ”, có “biển” – tấm gỗ sơn son thếp vàng có khắc bốn chữ “ân tứ vinh danh”, có “cân đai” – khăn bịt tóc để đội mũ và vòng đeo ngang lưng ở ngoài áo chầu. Cờ, biển, cân, đai là những thứ vua ban cho người đỗ tiến sĩ để “vinh quy bái tổ”. Tác giả đã sử dụng điệp từ “cũng” để nhấn mạnh sự đầy đủ bộ lễ của ông tiến sĩ giấy. Nhưng chính từ “cũng” ấy làm nên điều bất ngờ cho toàn bài thơ. Từ “cũng” thể hiện sự nửa vời và bất thường. Tuy ông tiến sĩ giấy giống ông tiến sĩ thật, nhưng đó chỉ ông tiến sĩ làm bằng giấy để tạo thành đồ chơi cho trẻ con. Câu thơ vì thế thoáng chút mỉa mai, châm biếm của tác giả.

Đến với hai câu thực, hình dáng tiến sĩ giấy được khắc họa rõ nét hơn và tính chất nửa vời cùng được tăng lên:

Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng
Nét son điểm rõ mặt văn khôi

Tiến sĩ giấy ấy chỉ cần vài mảnh giấy là tạo thành hình dáng, chỉ cần vài ba nét son là tạo nên khuôn mặt của một người đứng đầu làng văn. Vậy nhưng hàm ý của Nguyễn Khuyến không dừng ở đó, ẩn sau câu thơ còn là lớp nghĩa ẩn dụ. Tác giả đã sử dụng hai cặp đối lấp “mảnh giấy – thân giáp bảng” và “nét son – mặt văn khôi” nhấn mạnh đến tầm thường của chức vị tiến sĩ trong giai đoạn này. Mảnh giấy, nét son có thể hiểu là bài thi của các ông nghè, phải có bài thi ấy mới trở thành ông tiến sĩ. Song mảnh giấy, nét son ấy cũng có thể là những thứ mua danh tiến sĩ. Tính chất trào phúng được thể hiện ở sự đối lập những thú thật đơn giản, nhỏ bé (mảnh giấy, nét son) với những thứ lớn lao, rất đáng trân trọng (thân giáp bảng, mặt văn khôi). Trong thời hoàng kim của nho học, một người đỗ đạt mang danh thơm về cho cả làng, nó là kết của những năm tháng vất vả dùi mài kinh sử. Miêu tả ông tiến sĩ giấy nhưng thực chất là đang nói đến chuyện khoa cử, chuyện quan tước. Hai cặp đối lập đã nói lên bản chất xấu xa của chế độ thi cử lụi tàn. Trường thi vốn là nơi thiêng liêng, nghiêm trang để tuyển chọn người hiền tài phụng sự đất nước. Nhưng giờ đây trường thi lại bị biến thành thị trường mua bằng, bán chữ và kẻ đỗ đạt là lại là kẻ bất tài. Mảnh giấy lại mang tính ám chỉ cho tiền bạc đút lót, ẩn hiện sau tấm văn bằng.

Trong hai câu thực, cái nhỏ bé tầm thường, tạo ra cái lớn lao, được đặt ở vế trước của câu thì đến hai câu luận, cái lớn lao được đặt ở vế trước, cái nhỏ bé được đặt ở vế sau của câu thơ, nhằm làm bật lên sự rẻ rúng, kém giá trị của những loại tiến sĩ này:

Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?
Cái giá khoa danh ấy mới hời!

Hai câu thơ cũng thể hiện tâm trạng của tác giả trước sự mất giá trị của khoa cử. Để được ghi danh trên bảng vàng, các nho sĩ đã phải bỏ rất nhiều mồ hôi công sức, bao ngày thức khuya dậy sớm dùi mài kinh sử nhưng đây “tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?”. Thực trạng đất nước lúc bấy giờ với những thay đổi về đường hướng tuyển chọn nhân tài, nạn mua danh bán chức diễn ra phổ biến dẫn đến xuất hiện những kẻ có danh mà không có tài. Hậu quả là những người có tài đức thực sự, những người đỗ đạt bằng chính thực lực của mình lại chỉ bằng, thậm chí là thua những kẻ “tiến sĩ giấy”. Hai câu thơ vừa là sự châm biến mỉa mai thực trạng của xã hội, vừa là lời tự trào chua xót của nhà thơ, cười người nhưng cũng để cười chính mình, để xót xa cho bản thân và cho cả đất nước.

Hai câu thơ kết, tính trào phúng của bài thơ mới thực sự đạt tới đỉnh cao, nó phá tan sự thật thật giả giả ở những sáu câu thơ đầu:

Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe
Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi

Chúng ta có thể cảm nhận được thái độ đả kích của tác giả với những kẻ nhờ có đồng tiền lo lót mà mua quan bán chức, không chỉ vậy những kẻ đó lại tự hào về cái hư danh của mình mà thích thể hiện, ra oai, không tự thấy hổ thẹn. Hành động “ngồi bảnh chọe” kết hợp với “ghế tréo”, “lọng xanh” càng khắc họa rõ nét hơn hình ảnh những ông tiến sĩ “giấy” kệch cỡm, đáng khinh. Kết lại bài thơ, tác giả Nguyễn Khuyến đã bày tỏ quan điểm của mình một cách trực tiếp: “Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi”. Cách kết thúc bất ngờ, đột ngột nhưng rất tự nhiên ở câu thơ cuối cùng đã tạo nên tính chất trào phúng và giá trị phê phán cho tác phẩm. Cả 7 câu thơ trước đều tập trung miêu tả hình thức của một ông tiến sĩ nhưng đến câu kết tất cả đã được lật tẩy. Cách thể hiện đầy bất ngờ ấy đã tạo nên hai lớp nghĩa cho bài thơ. Mượn việc vịnh một thứ đồ chơi của trẻ con mà châm biếm loại tiến sĩ rởm đồng thời cũng tự trào sự bất lực của mình.

Bài thơ “Tiến sĩ giấy” là một bài thơ chữ Nôm được viết theo thể thơ thất ngôn bát cũ, bài thơ không chỉ thể hiện tài năng của Nguyễn Khuyến, đặc biệt là cách sử dụng nghệ thuật đối mà còn thể hiện nhân cách tốt đẹp của nhà thơ. Bài thơ không chỉ là tiếng nói mỉa mai, châm biếm những “tiến sĩ giấy” bất tài, làm quan vì danh lợi, tiền tài chứ không phải vì đất nước. Đồng thời, bài thơ cũng là lời tự trào của chính Nguyễn Khuyến. Nguyễn Khuyến cũng là tiến sĩ, ông đã phải cáo quan về quê sống cuộc sống thanh nhàn để giữ trọn khí tiết của nhà nho nhưng vẫn canh cánh trong lòng nỗi niềm giang sơn xã tắc. Ông đã từng bao năm dùi mài kinh sử, từng ôm mộng khoa danh để phò vua giúp đời. Nhưng thời cuộc đã đẩy ông vào tình trạng bất lực. Nhìn thời thế hỗn loạn, chứng kiến bao nhiêu điều ngang tai trái mắt mà không thể làm gì được. Tâm trạng ấy đã khiến Nguyễn Khuyến tự coi mình cũng là một tiến sĩ giấy.

Bài thơ đã tái hiện thực trạng của xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX, ở đó những giá trị tốt đẹp của một nền Nho học lâu đời dần trở nên biến tướng, xuống cấp. Bài thơ thể hiện trải nghiệm thấm thía về cái nhố nhăng của thời cuộc cùng sự bất lực của con người nhà nho trước những đòi hỏi mới của đất nước. Bên cạnh đó bài thơ cũng mang đến cho người đọc những suy nghĩ sâu sắc về cái danh và cái thực, về ý thức của người có học. Sống ở trên đời không nên coi trọng hư danh. Người có học phải ý thức được vị trí và trách nhiệm của mình trước cuộc đời

Em luôn đồng tình với ý kiến :tiếng cười cũng có sức mạnh của một thứ vũ khí chống lại cái chưa hay, chưa đẹp. Bởi tiếng cười chứa đựng rất nhiều sắc thái khác nhau ,tiếng cười không chỉ thể hiện niềm vui mà còn có thể mang ý nghĩa châm biếm , phê phán xã hội . Sức mạnh của tiếng cười để phê phán những cái chưa hay chưa đúng xuất hiện khắp nơi trong cuộc sống, nhưng có lẽ nơi sáng nhất vẫn là trong văn chương. Từ xưa đến nay đã xuất hiện vô vàn bài thơ mang tiếng cười sâu cay, điển hình như bài thơ "Anh giả điếc " của tác giả Nguyễn Khuyến thể hiện sự phê phán và chế giễu những tệ nạn trong xã hội .Tóm lại , ý kiến :tiếng cười cũng có sức mạnh của một thứ vũ khí chống lại cái chưa hay, chưa đẹp là hoàn toàn chính xác , hiện nay xuất hiện ngày càng nhiều những thói hư tật xấu, vậy nên chúng ta nên sử dụng tiếng cười nhiều hơn để phê phán chúng.


sắc thái nghĩa của từ “thiếu phụ” trong câu: "Chợt một thiếu phụ bước vào với một đứa bé độ chín, mười tháng tuổi trên tay và một chú mèo con." là trang trọng và lịch sự

In a family, everyone has their own things to do , but housework is a responsibility that all members should share . For me, I help my family by watering the plants, feeding the dog , tidying up my bed ...Those tasks maybe simple , but they make our home become cleaner and liveable . Additionally, if promotes family bonds base on reducing the burden on parents and increasing children's self-discipline,

1 Muong earns for living by farming and raising animals

2.They are in a habit of exercising after work

1. If you don't drink more water, you will get more acne.

2. My sister wants to see the terraced fields, so she is going to Sa Pa

3.Unless he spends time on his phone, he will complete his work.