Nguyễn Mai Chi
Giới thiệu về bản thân
Djjdjdjdjd
Khi sáng tác thơ văn châm biếm, các tác giả thường xoay quanh những vấn đề của xã hội và biến chúng thành đề tài. Nhưng hiếm ai như Nguyễn Khuyến—ông viết thơ tự trào, là tự trào chính bản thân mình. Người ta thường nói Nguyễn Khuyến là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam, với những vần thơ thu lãng mạn, tinh tế. Thế nhưng, điều ít ai biết là trong thơ tự trào, Nguyễn Khuyến lại trở thành một vị quan bất tài… tự trào chính bản thân mình. Bài thơ “Tự trào” được sáng tác khi Nguyễn Khuyến cáo lão hồi hương. Đất nước đang bị giặc xâm lăng nhưng ông lại bất lực, chỉ biết đứng nhìn. Dù là người nổi tiếng học rộng tài cao, đỗ đạt vẻ vang, nhưng đến thời điểm này ông cũng chẳng biết phải làm gì. Hết lời khuyên can triều đình mà không thành , ông buộc phải rời bỏ chốn quan trường để về quê bởi không muốn chứng kiến cảnh xót thương. Và cũng chính vì vậy , ông đã viết nên bài thơ “Tự trào” khi đang ở quê nhà. Không chỉ là lời tự trách nhẹ nhàng, bài thơ còn chứa đựng sự châm biếm sâu cay đối với xã hội bấy giờ, khi những kẻ quan cao chức lớn lại để dân thường chịu khỏ vì giặc. Trong hai câu thơ đầu, Nguyễn Khuyến đã tự khắc họa hình ảnh của chính mình khi ấy : Cũng chẳng giàu mà cũng chẳng sang, Chẳng gầy chẳng béo, chỉ làng nhàng. Dường như lúc ấy , vị quan cũ trở về nhưng vẫn không cam lòng , làm bạn với rượu và ngâm thơ .Bởi vậy giọng điệu bài thơ mới mang sắc thái của một ông lão đang lúc say mèm. Ông tự nói rằng mình không giàu, không sang, cũng không gầy hay béo , giống hệt một con người bình thường, không có gì nổi bật.Trước đây, khi còn làm quan, tay ông cầm quyền, miệng ông đọc sách, tài năng được ca ngợi là hơn người. Nhưng khi đã về quê, khi thấy sự bất lực của chính mình, niềm tin như đã phai nhòa trong ông , biến vị tuấn tài đó trở nên bth như bao ngkhac Cờ đương dở cuộc không còn nước Bạc chửa thâu canh đã chạy làng. Sự châm biếm bắt đầu rõ ràng hơn từ hai câu thực. Nguyễn Khuyến tự cười mình bằng hai chữ “chạy làng”. Ông ví việc mình cáo lão về quê chính là chạy trốn. Mà cũng đúng thật! Ông chạy khỏi hiện thực đau thương, chạy khỏi chốn cung đình cao rộng nhưng tù túng, trở về với thiên nhiên và tự do như ông hằng mong ước. Nhưng khi ấy, đàn ông mà chạy làng thì chính như thể lại đang bị lên án. Ông như kẻ vô tâm chỉ biết trốn xa đường nhìn thế cuộc rối ren của đất nước. Nhưng hỡi ôi! Cái đau lòng và khiến Nguyễn Khuyến đau xót nhất lại hiện lên trong chính câu thơ, đó là cảnh “không còn nước”. Ván cờ đang dở dang như cuộc đời, con thuyền không kịp chống hiểm, quân cờ chưa kịp đi thì đã mất nước. Mà khi ấy, mất nước tức là hết, trọn cuộc sống chẳng còn lại gì. Thế nên trước hoàn cảnh ông đang chạy trốn của mình, ông lại càng thêm mỉa mai giọng điệu càng thêm châm biếm Nhưng một vị quan nhỏ đã vậy, mà những kẻ quyền cao hơn lại có thái độ càng thêm bạc béo: Mở miệng nói ra gàn bát sách, Mềm môi chén mãi tít cung thang. Nguyễn Khuyến đã khuyên can, đã gàn “bất sách” nhưng chẳng được, tiếng cười dần trở nên chua xót, cười đời, cười mình, cười thê lương vô thường. Khi trở về, ông say trong men rượu như để quên đi nỗi xót xa bên ngoài, lấy rượu để giải sầu, mượn rượu để nói ra nỗi lòng. Không chỉ châm biếm chính bản thân, Nguyễn Khuyến còn châm biếm cả một thế hệ học sĩ lúc bấy giờ. Những người có ăn có học, được bổng lộc của dân đen nhưng lại làm ngơ chính sự, chịu nhục để giặc dọa dày. Vì nỗi đó, ông mới than lên câu kết: Nghĩ mình lại ngán cho mình nhỉ, Mà cũng bia xanh, cũng bảng vàng. Là vị danh sĩ một thời, ấy vậy mà ông không làm gì được nên mới “ngán cho mình”. Tự trách mình kém cỏi, không xứng nhưng cả các bậc tiền sĩ hồi ấy cũng thật đáng cười. Nào là bia xanh, nào là bảng vàng, nhưng những lúc thực sự cần lại không thấy. Như Nguyễn Khuyến, ông chọn về quê, tránh rời thế sự trên đời. Bởi bao lần ngăn vua không được, ông mới thực sự hiểu rằng: Vua chèo còn chẳng ra gì Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề Bài thơ thể hiện sự tự nhận thức của Nguyễn Khuyến về tài năng, về vận mệnh của mình và một thời đại, một thế hệ. Ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc nhưng lại rất tinh tế, sâu sắc đa châm biếm từ bản thân đến thế hệ ngày ấy, khiến cho người đọc ngỡ ngàng. Vậy nên từ đây say trong men rượu, ông đồng ý bỏ hết về với thiên nhiên và tận hưởng những ngày tháng an nhàn, dù tâm vẫn lo lắng cho nghiệp nước, sự đời!
Khi sáng tác thơ văn châm biếm, các tác giả thường xoay quanh những vấn đề của xã hội và biến chúng thành đề tài. Nhưng hiếm ai như Nguyễn Khuyến—ông viết thơ tự trào, là tự trào chính bản thân mình. Người ta thường nói Nguyễn Khuyến là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam, với những vần thơ thu lãng mạn, tinh tế. Thế nhưng, điều ít ai biết là trong thơ tự trào, Nguyễn Khuyến lại trở thành một vị quan bất tài… tự trào chính bản thân mình. Bài thơ “Tự trào” được sáng tác khi Nguyễn Khuyến cáo lão hồi hương. Đất nước đang bị giặc xâm lăng nhưng ông lại bất lực, chỉ biết đứng nhìn. Dù là người nổi tiếng học rộng tài cao, đỗ đạt vẻ vang, nhưng đến thời điểm này ông cũng chẳng biết phải làm gì. Hết lời khuyên can triều đình mà không thành , ông buộc phải rời bỏ chốn quan trường để về quê bởi không muốn chứng kiến cảnh xót thương. Và cũng chính vì vậy , ông đã viết nên bài thơ “Tự trào” khi đang ở quê nhà. Không chỉ là lời tự trách nhẹ nhàng, bài thơ còn chứa đựng sự châm biếm sâu cay đối với xã hội bấy giờ, khi những kẻ quan cao chức lớn lại để dân thường chịu khỏ vì giặc. Trong hai câu thơ đầu, Nguyễn Khuyến đã tự khắc họa hình ảnh của chính mình khi ấy : Cũng chẳng giàu mà cũng chẳng sang, Chẳng gầy chẳng béo, chỉ làng nhàng. Dường như lúc ấy , vị quan cũ trở về nhưng vẫn không cam lòng , làm bạn với rượu và ngâm thơ .Bởi vậy giọng điệu bài thơ mới mang sắc thái của một ông lão đang lúc say mèm. Ông tự nói rằng mình không giàu, không sang, cũng không gầy hay béo , giống hệt một con người bình thường, không có gì nổi bật.Trước đây, khi còn làm quan, tay ông cầm quyền, miệng ông đọc sách, tài năng được ca ngợi là hơn người. Nhưng khi đã về quê, khi thấy sự bất lực của chính mình, niềm tin như đã phai nhòa trong ông , biến vị tuấn tài đó trở nên bth như bao ngkhac Cờ đương dở cuộc không còn nước Bạc chửa thâu canh đã chạy làng. Sự châm biếm bắt đầu rõ ràng hơn từ hai câu thực. Nguyễn Khuyến tự cười mình bằng hai chữ “chạy làng”. Ông ví việc mình cáo lão về quê chính là chạy trốn. Mà cũng đúng thật! Ông chạy khỏi hiện thực đau thương, chạy khỏi chốn cung đình cao rộng nhưng tù túng, trở về với thiên nhiên và tự do như ông hằng mong ước. Nhưng khi ấy, đàn ông mà chạy làng thì chính như thể lại đang bị lên án. Ông như kẻ vô tâm chỉ biết trốn xa đường nhìn thế cuộc rối ren của đất nước. Nhưng hỡi ôi! Cái đau lòng và khiến Nguyễn Khuyến đau xót nhất lại hiện lên trong chính câu thơ, đó là cảnh “không còn nước”. Ván cờ đang dở dang như cuộc đời, con thuyền không kịp chống hiểm, quân cờ chưa kịp đi thì đã mất nước. Mà khi ấy, mất nước tức là hết, trọn cuộc sống chẳng còn lại gì. Thế nên trước hoàn cảnh ông đang chạy trốn của mình, ông lại càng thêm mỉa mai giọng điệu càng thêm châm biếm Nhưng một vị quan nhỏ đã vậy, mà những kẻ quyền cao hơn lại có thái độ càng thêm bạc béo: Mở miệng nói ra gàn bát sách, Mềm môi chén mãi tít cung thang. Nguyễn Khuyến đã khuyên can, đã gàn “bất sách” nhưng chẳng được, tiếng cười dần trở nên chua xót, cười đời, cười mình, cười thê lương vô thường. Khi trở về, ông say trong men rượu như để quên đi nỗi xót xa bên ngoài, lấy rượu để giải sầu, mượn rượu để nói ra nỗi lòng. Không chỉ châm biếm chính bản thân, Nguyễn Khuyến còn châm biếm cả một thế hệ học sĩ lúc bấy giờ. Những người có ăn có học, được bổng lộc của dân đen nhưng lại làm ngơ chính sự, chịu nhục để giặc dọa dày. Vì nỗi đó, ông mới than lên câu kết: Nghĩ mình lại ngán cho mình nhỉ, Mà cũng bia xanh, cũng bảng vàng. Là vị danh sĩ một thời, ấy vậy mà ông không làm gì được nên mới “ngán cho mình”. Tự trách mình kém cỏi, không xứng nhưng cả các bậc tiền sĩ hồi ấy cũng thật đáng cười. Nào là bia xanh, nào là bảng vàng, nhưng những lúc thực sự cần lại không thấy. Như Nguyễn Khuyến, ông chọn về quê, tránh rời thế sự trên đời. Bởi bao lần ngăn vua không được, ông mới thực sự hiểu rằng: Vua chèo còn chẳng ra gì Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề Bài thơ thể hiện sự tự nhận thức của Nguyễn Khuyến về tài năng, về vận mệnh của mình và một thời đại, một thế hệ. Ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc nhưng lại rất tinh tế, sâu sắc đa châm biếm từ bản thân đến thế hệ ngày ấy, khiến cho người đọc ngỡ ngàng. Vậy nên từ đây say trong men rượu, ông đồng ý bỏ hết về với thiên nhiên và tận hưởng những ngày tháng an nhàn, dù tâm vẫn lo lắng cho nghiệp nước, sự đời!
Khi sáng tác thơ văn châm biếm, các tác giả thường xoay quanh những vấn đề của xã hội và biến chúng thành đề tài. Nhưng hiếm ai như Nguyễn Khuyến—ông viết thơ tự trào, là tự trào chính bản thân mình. Người ta thường nói Nguyễn Khuyến là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam, với những vần thơ thu lãng mạn, tinh tế. Thế nhưng, điều ít ai biết là trong thơ tự trào, Nguyễn Khuyến lại trở thành một vị quan bất tài… tự trào chính bản thân mình. Bài thơ “Tự trào” được sáng tác khi Nguyễn Khuyến cáo lão hồi hương. Đất nước đang bị giặc xâm lăng nhưng ông lại bất lực, chỉ biết đứng nhìn. Dù là người nổi tiếng học rộng tài cao, đỗ đạt vẻ vang, nhưng đến thời điểm này ông cũng chẳng biết phải làm gì. Hết lời khuyên can triều đình mà không thành , ông buộc phải rời bỏ chốn quan trường để về quê bởi không muốn chứng kiến cảnh xót thương. Và cũng chính vì vậy , ông đã viết nên bài thơ “Tự trào” khi đang ở quê nhà. Không chỉ là lời tự trách nhẹ nhàng, bài thơ còn chứa đựng sự châm biếm sâu cay đối với xã hội bấy giờ, khi những kẻ quan cao chức lớn lại để dân thường chịu khỏ vì giặc. Trong hai câu thơ đầu, Nguyễn Khuyến đã tự khắc họa hình ảnh của chính mình khi ấy : Cũng chẳng giàu mà cũng chẳng sang, Chẳng gầy chẳng béo, chỉ làng nhàng. Dường như lúc ấy , vị quan cũ trở về nhưng vẫn không cam lòng , làm bạn với rượu và ngâm thơ .Bởi vậy giọng điệu bài thơ mới mang sắc thái của một ông lão đang lúc say mèm. Ông tự nói rằng mình không giàu, không sang, cũng không gầy hay béo , giống hệt một con người bình thường, không có gì nổi bật.Trước đây, khi còn làm quan, tay ông cầm quyền, miệng ông đọc sách, tài năng được ca ngợi là hơn người. Nhưng khi đã về quê, khi thấy sự bất lực của chính mình, niềm tin như đã phai nhòa trong ông , biến vị tuấn tài đó trở nên bth như bao ngkhac Cờ đương dở cuộc không còn nước Bạc chửa thâu canh đã chạy làng. Sự châm biếm bắt đầu rõ ràng hơn từ hai câu thực. Nguyễn Khuyến tự cười mình bằng hai chữ “chạy làng”. Ông ví việc mình cáo lão về quê chính là chạy trốn. Mà cũng đúng thật! Ông chạy khỏi hiện thực đau thương, chạy khỏi chốn cung đình cao rộng nhưng tù túng, trở về với thiên nhiên và tự do như ông hằng mong ước. Nhưng khi ấy, đàn ông mà chạy làng thì chính như thể lại đang bị lên án. Ông như kẻ vô tâm chỉ biết trốn xa đường nhìn thế cuộc rối ren của đất nước. Nhưng hỡi ôi! Cái đau lòng và khiến Nguyễn Khuyến đau xót nhất lại hiện lên trong chính câu thơ, đó là cảnh “không còn nước”. Ván cờ đang dở dang như cuộc đời, con thuyền không kịp chống hiểm, quân cờ chưa kịp đi thì đã mất nước. Mà khi ấy, mất nước tức là hết, trọn cuộc sống chẳng còn lại gì. Thế nên trước hoàn cảnh ông đang chạy trốn của mình, ông lại càng thêm mỉa mai giọng điệu càng thêm châm biếm Nhưng một vị quan nhỏ đã vậy, mà những kẻ quyền cao hơn lại có thái độ càng thêm bạc béo: Mở miệng nói ra gàn bát sách, Mềm môi chén mãi tít cung thang. Nguyễn Khuyến đã khuyên can, đã gàn “bất sách” nhưng chẳng được, tiếng cười dần trở nên chua xót, cười đời, cười mình, cười thê lương vô thường. Khi trở về, ông say trong men rượu như để quên đi nỗi xót xa bên ngoài, lấy rượu để giải sầu, mượn rượu để nói ra nỗi lòng. Không chỉ châm biếm chính bản thân, Nguyễn Khuyến còn châm biếm cả một thế hệ học sĩ lúc bấy giờ. Những người có ăn có học, được bổng lộc của dân đen nhưng lại làm ngơ chính sự, chịu nhục để giặc dọa dày. Vì nỗi đó, ông mới than lên câu kết: Nghĩ mình lại ngán cho mình nhỉ, Mà cũng bia xanh, cũng bảng vàng. Là vị danh sĩ một thời, ấy vậy mà ông không làm gì được nên mới “ngán cho mình”. Tự trách mình kém cỏi, không xứng nhưng cả các bậc tiền sĩ hồi ấy cũng thật đáng cười. Nào là bia xanh, nào là bảng vàng, nhưng những lúc thực sự cần lại không thấy. Như Nguyễn Khuyến, ông chọn về quê, tránh rời thế sự trên đời. Bởi bao lần ngăn vua không được, ông mới thực sự hiểu rằng: Vua chèo còn chẳng ra gì Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề Bài thơ thể hiện sự tự nhận thức của Nguyễn Khuyến về tài năng, về vận mệnh của mình và một thời đại, một thế hệ. Ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc nhưng lại rất tinh tế, sâu sắc đa châm biếm từ bản thân đến thế hệ ngày ấy, khiến cho người đọc ngỡ ngàng. Vậy nên từ đây say trong men rượu, ông đồng ý bỏ hết về với thiên nhiên và tận hưởng những ngày tháng an nhàn, dù tâm vẫn lo lắng cho nghiệp nước, sự đời!
Khi sáng tác thơ văn châm biếm, các tác giả thường xoay quanh những vấn đề của xã hội và biến chúng thành đề tài. Nhưng hiếm ai như Nguyễn Khuyến—ông viết thơ tự trào, là tự trào chính bản thân mình. Người ta thường nói Nguyễn Khuyến là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam, với những vần thơ thu lãng mạn, tinh tế. Thế nhưng, điều ít ai biết là trong thơ tự trào, Nguyễn Khuyến lại trở thành một vị quan bất tài… tự trào chính bản thân mình. Bài thơ “Tự trào” được sáng tác khi Nguyễn Khuyến cáo lão hồi hương. Đất nước đang bị giặc xâm lăng nhưng ông lại bất lực, chỉ biết đứng nhìn. Dù là người nổi tiếng học rộng tài cao, đỗ đạt vẻ vang, nhưng đến thời điểm này ông cũng chẳng biết phải làm gì. Hết lời khuyên can triều đình mà không thành , ông buộc phải rời bỏ chốn quan trường để về quê bởi không muốn chứng kiến cảnh xót thương. Và cũng chính vì vậy , ông đã viết nên bài thơ “Tự trào” khi đang ở quê nhà. Không chỉ là lời tự trách nhẹ nhàng, bài thơ còn chứa đựng sự châm biếm sâu cay đối với xã hội bấy giờ, khi những kẻ quan cao chức lớn lại để dân thường chịu khỏ vì giặc. Trong hai câu thơ đầu, Nguyễn Khuyến đã tự khắc họa hình ảnh của chính mình khi ấy : Cũng chẳng giàu mà cũng chẳng sang, Chẳng gầy chẳng béo, chỉ làng nhàng. Dường như lúc ấy , vị quan cũ trở về nhưng vẫn không cam lòng , làm bạn với rượu và ngâm thơ .Bởi vậy giọng điệu bài thơ mới mang sắc thái của một ông lão đang lúc say mèm. Ông tự nói rằng mình không giàu, không sang, cũng không gầy hay béo , giống hệt một con người bình thường, không có gì nổi bật.Trước đây, khi còn làm quan, tay ông cầm quyền, miệng ông đọc sách, tài năng được ca ngợi là hơn người. Nhưng khi đã về quê, khi thấy sự bất lực của chính mình, niềm tin như đã phai nhòa trong ông , biến vị tuấn tài đó trở nên bth như bao ngkhac Cờ đương dở cuộc không còn nước Bạc chửa thâu canh đã chạy làng. Sự châm biếm bắt đầu rõ ràng hơn từ hai câu thực. Nguyễn Khuyến tự cười mình bằng hai chữ “chạy làng”. Ông ví việc mình cáo lão về quê chính là chạy trốn. Mà cũng đúng thật! Ông chạy khỏi hiện thực đau thương, chạy khỏi chốn cung đình cao rộng nhưng tù túng, trở về với thiên nhiên và tự do như ông hằng mong ước. Nhưng khi ấy, đàn ông mà chạy làng thì chính như thể lại đang bị lên án. Ông như kẻ vô tâm chỉ biết trốn xa đường nhìn thế cuộc rối ren của đất nước. Nhưng hỡi ôi! Cái đau lòng và khiến Nguyễn Khuyến đau xót nhất lại hiện lên trong chính câu thơ, đó là cảnh “không còn nước”. Ván cờ đang dở dang như cuộc đời, con thuyền không kịp chống hiểm, quân cờ chưa kịp đi thì đã mất nước. Mà khi ấy, mất nước tức là hết, trọn cuộc sống chẳng còn lại gì. Thế nên trước hoàn cảnh ông đang chạy trốn của mình, ông lại càng thêm mỉa mai giọng điệu càng thêm châm biếm Nhưng một vị quan nhỏ đã vậy, mà những kẻ quyền cao hơn lại có thái độ càng thêm bạc béo: Mở miệng nói ra gàn bát sách, Mềm môi chén mãi tít cung thang. Nguyễn Khuyến đã khuyên can, đã gàn “bất sách” nhưng chẳng được, tiếng cười dần trở nên chua xót, cười đời, cười mình, cười thê lương vô thường. Khi trở về, ông say trong men rượu như để quên đi nỗi xót xa bên ngoài, lấy rượu để giải sầu, mượn rượu để nói ra nỗi lòng. Không chỉ châm biếm chính bản thân, Nguyễn Khuyến còn châm biếm cả một thế hệ học sĩ lúc bấy giờ. Những người có ăn có học, được bổng lộc của dân đen nhưng lại làm ngơ chính sự, chịu nhục để giặc dọa dày. Vì nỗi đó, ông mới than lên câu kết: Nghĩ mình lại ngán cho mình nhỉ, Mà cũng bia xanh, cũng bảng vàng. Là vị danh sĩ một thời, ấy vậy mà ông không làm gì được nên mới “ngán cho mình”. Tự trách mình kém cỏi, không xứng nhưng cả các bậc tiền sĩ hồi ấy cũng thật đáng cười. Nào là bia xanh, nào là bảng vàng, nhưng những lúc thực sự cần lại không thấy. Như Nguyễn Khuyến, ông chọn về quê, tránh rời thế sự trên đời. Bởi bao lần ngăn vua không được, ông mới thực sự hiểu rằng: Vua chèo còn chẳng ra gì Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề Bài thơ thể hiện sự tự nhận thức của Nguyễn Khuyến về tài năng, về vận mệnh của mình và một thời đại, một thế hệ. Ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc nhưng lại rất tinh tế, sâu sắc đa châm biếm từ bản thân đến thế hệ ngày ấy, khiến cho người đọc ngỡ ngàng. Vậy nên từ đây say trong men rượu, ông đồng ý bỏ hết về với thiên nhiên và tận hưởng những ngày tháng an nhàn, dù tâm vẫn lo lắng cho nghiệp nước, sự đời!
Khi sáng tác thơ văn châm biếm, các tác giả thường xoay quanh những vấn đề của xã hội và biến chúng thành đề tài. Nhưng hiếm ai như Nguyễn Khuyến—ông viết thơ tự trào, là tự trào chính bản thân mình. Người ta thường nói Nguyễn Khuyến là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam, với những vần thơ thu lãng mạn, tinh tế. Thế nhưng, điều ít ai biết là trong thơ tự trào, Nguyễn Khuyến lại trở thành một vị quan bất tài… tự trào chính bản thân mình. Bài thơ “Tự trào” được sáng tác khi Nguyễn Khuyến cáo lão hồi hương. Đất nước đang bị giặc xâm lăng nhưng ông lại bất lực, chỉ biết đứng nhìn. Dù là người nổi tiếng học rộng tài cao, đỗ đạt vẻ vang, nhưng đến thời điểm này ông cũng chẳng biết phải làm gì. Hết lời khuyên can triều đình mà không thành , ông buộc phải rời bỏ chốn quan trường để về quê bởi không muốn chứng kiến cảnh xót thương. Và cũng chính vì vậy , ông đã viết nên bài thơ “Tự trào” khi đang ở quê nhà. Không chỉ là lời tự trách nhẹ nhàng, bài thơ còn chứa đựng sự châm biếm sâu cay đối với xã hội bấy giờ, khi những kẻ quan cao chức lớn lại để dân thường chịu khỏ vì giặc. Trong hai câu thơ đầu, Nguyễn Khuyến đã tự khắc họa hình ảnh của chính mình khi ấy : Cũng chẳng giàu mà cũng chẳng sang, Chẳng gầy chẳng béo, chỉ làng nhàng. Dường như lúc ấy , vị quan cũ trở về nhưng vẫn không cam lòng , làm bạn với rượu và ngâm thơ .Bởi vậy giọng điệu bài thơ mới mang sắc thái của một ông lão đang lúc say mèm. Ông tự nói rằng mình không giàu, không sang, cũng không gầy hay béo , giống hệt một con người bình thường, không có gì nổi bật.Trước đây, khi còn làm quan, tay ông cầm quyền, miệng ông đọc sách, tài năng được ca ngợi là hơn người. Nhưng khi đã về quê, khi thấy sự bất lực của chính mình, niềm tin như đã phai nhòa trong ông , biến vị tuấn tài đó trở nên bth như bao ngkhac Cờ đương dở cuộc không còn nước Bạc chửa thâu canh đã chạy làng. Sự châm biếm bắt đầu rõ ràng hơn từ hai câu thực. Nguyễn Khuyến tự cười mình bằng hai chữ “chạy làng”. Ông ví việc mình cáo lão về quê chính là chạy trốn. Mà cũng đúng thật! Ông chạy khỏi hiện thực đau thương, chạy khỏi chốn cung đình cao rộng nhưng tù túng, trở về với thiên nhiên và tự do như ông hằng mong ước. Nhưng khi ấy, đàn ông mà chạy làng thì chính như thể lại đang bị lên án. Ông như kẻ vô tâm chỉ biết trốn xa đường nhìn thế cuộc rối ren của đất nước. Nhưng hỡi ôi! Cái đau lòng và khiến Nguyễn Khuyến đau xót nhất lại hiện lên trong chính câu thơ, đó là cảnh “không còn nước”. Ván cờ đang dở dang như cuộc đời, con thuyền không kịp chống hiểm, quân cờ chưa kịp đi thì đã mất nước. Mà khi ấy, mất nước tức là hết, trọn cuộc sống chẳng còn lại gì. Thế nên trước hoàn cảnh ông đang chạy trốn của mình, ông lại càng thêm mỉa mai giọng điệu càng thêm châm biếm Nhưng một vị quan nhỏ đã vậy, mà những kẻ quyền cao hơn lại có thái độ càng thêm bạc béo: Mở miệng nói ra gàn bát sách, Mềm môi chén mãi tít cung thang. Nguyễn Khuyến đã khuyên can, đã gàn “bất sách” nhưng chẳng được, tiếng cười dần trở nên chua xót, cười đời, cười mình, cười thê lương vô thường. Khi trở về, ông say trong men rượu như để quên đi nỗi xót xa bên ngoài, lấy rượu để giải sầu, mượn rượu để nói ra nỗi lòng. Không chỉ châm biếm chính bản thân, Nguyễn Khuyến còn châm biếm cả một thế hệ học sĩ lúc bấy giờ. Những người có ăn có học, được bổng lộc của dân đen nhưng lại làm ngơ chính sự, chịu nhục để giặc dọa dày. Vì nỗi đó, ông mới than lên câu kết: Nghĩ mình lại ngán cho mình nhỉ, Mà cũng bia xanh, cũng bảng vàng. Là vị danh sĩ một thời, ấy vậy mà ông không làm gì được nên mới “ngán cho mình”. Tự trách mình kém cỏi, không xứng nhưng cả các bậc tiền sĩ hồi ấy cũng thật đáng cười. Nào là bia xanh, nào là bảng vàng, nhưng những lúc thực sự cần lại không thấy. Như Nguyễn Khuyến, ông chọn về quê, tránh rời thế sự trên đời. Bởi bao lần ngăn vua không được, ông mới thực sự hiểu rằng: Vua chèo còn chẳng ra gì Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề Bài thơ thể hiện sự tự nhận thức của Nguyễn Khuyến về tài năng, về vận mệnh của mình và một thời đại, một thế hệ. Ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc nhưng lại rất tinh tế, sâu sắc đa châm biếm từ bản thân đến thế hệ ngày ấy, khiến cho người đọc ngỡ ngàng. Vậy nên từ đây say trong men rượu, ông đồng ý bỏ hết về với thiên nhiên và tận hưởng những ngày tháng an nhàn, dù tâm vẫn lo lắng cho nghiệp nước, sự đời!
Tiếng cười có sức mạnh to lớn trong việc chống lại cái chưa hay, chưa đẹp. Nó không chỉ là sự giải trí mà còn là một công cụ phê phán, giúp con người nhận ra và thay đổi những thói hư tật xấu, những điều bất công trong cuộc sống. Tiếng cười mang tính châm biếm, đả kích, làm cho cái xấu trở nên lố bịch, bị mọi người xa lánh. Qua đó, nó góp phần định hướng con người vươn tới những giá trị chân, thiện, mỹ.
Trong câu văn, từ "thiếu phụ" được sử dụng để chỉ người phụ nữ đã có chồng nhưng còn trẻ tuổi. Sắc thái nghĩa của từ này là trang trọng, mang tính văn chương, thường được dùng trong văn viết hoặc lời nói lịch sự, khác với cách gọi thông thường hàng ngày. Việc sử dụng từ ngữ này góp phần tạo nên giọng văn nhã nhặn, phù hợp với bối cảnh miêu tả trong tác phẩm.