Lê Thị Hồng Hạnh
Giới thiệu về bản thân
Quyết định của ông nông dân là hợp lí. Vì: Bệnh phấn trắng trên cây cà chua là do nấm gây ra ( như Oidium neolycopersici ). Thuốc trừ nấm (thuốc diệt nấm) được thiết kế đặc hiệu để tiêu diệt hoặc kiểm soát sự phát triển của nấm gây bệnh. Do đó, việc sử dụng thuốc trừ nấm để xử lí vườn cà chua bị nhiễm bệnh phấn trắng là một biện pháp kĩ thuật đúng đắn và hợp lí. Tuy nhiên, hiệu quả của quyết định này còn phụ thuộc vào việc ông nông dân sử dụng thuốc đúng loại, đúng liều lượng, nồng độ và thời điểm theo hướng dẫn để đảm bảo an toàn và hiệu quả cao nhất.
Quyết định của ông nông dân là hợp lí. Vì: Bệnh phấn trắng trên cây cà chua là do nấm gây ra ( như Oidium neolycopersici ). Thuốc trừ nấm (thuốc diệt nấm) được thiết kế đặc hiệu để tiêu diệt hoặc kiểm soát sự phát triển của nấm gây bệnh. Do đó, việc sử dụng thuốc trừ nấm để xử lí vườn cà chua bị nhiễm bệnh phấn trắng là một biện pháp kĩ thuật đúng đắn và hợp lí. Tuy nhiên, hiệu quả của quyết định này còn phụ thuộc vào việc ông nông dân sử dụng thuốc đúng loại, đúng liều lượng, nồng độ và thời điểm theo hướng dẫn để đảm bảo an toàn và hiệu quả cao nhất.
- CÂU CHỦ ĐỀ: Muốn bước tới sự trưởng thành đúng nghĩa, ta phải đủ dũng cảm để dứt bỏ thói quen sống dựa dẫm.
- LUẬN ĐIỂM MỞ ĐẦU – Thực trạng, biểu hiện của thói quen dựa dẫm:
+ Nhiều người trẻ thường xuyên trông chờ vào người khác giải quyết hộ mọi việc.
+ Ngại tự làm, hay ỷ lại từ những việc nhỏ như học bài, làm việc nhóm đến các quyết định cá nhân.
+Khi gặp khó khăn liền tìm “người cứu”, không rèn được khả năng tự đứng lên.
- LUẬN ĐIỂM BỔ SUNG – Tác hại của thói quen dựa dẫm:
+ Mất khả năng tự lập, dễ lúng túng khi không có ai hỗ trợ.
+ Giảm sự tự tin và bản lĩnh, khiến bản thân bị phụ thuộc.
+ Kìm hãm sự phát triển, khó đạt được thành công bền vững.
+ Gây phiền cho người khác, ảnh hưởng các mối quan hệ.
- LUẬN ĐIỂM BỔ SUNG – Các giải pháp từ bỏ:
+ Rèn thói quen tự làm những việc nhỏ hằng ngày.
+ Lập kế hoạch cho việc học và công việc để chủ động hơn.
+ Tập giải quyết vấn đề theo từng bước trước khi nhờ người giúp.
+ Tự chịu trách nhiệm với lựa chọn của bản thân.
+ Kiểm soát tâm lý “sợ sai”, dám thử – dám học – dám sửa.
- ĐÁNH GIÁ TỔNG KẾT, LIÊN HỆ – Ý nghĩa của việc từ bỏ thói quen dựa dẫm:
+ Giúp con người trưởng thành, bản lĩnh và tự tin hơn.
+ Tạo ra sự chủ động trong cuộc sống và học tập.
+ Xây dựng hình ảnh một người đáng tin cậy và có trách nhiệm.
+Mở ra nhiều cơ hội phát triển bản thân và thành công trong tương lai.
Những yếu tố tạo nên sức thuyết phục của văn bản là: 1. Trải nghiệm chân thật của người viết Bài không nói lý thuyết suông mà kể lại chính quá trình “nghiện” – “vật vã” – “thoát nghiện”. Những chi tiết như ôm máy mọi lúc, quên mọi thứ trừ điện thoại, học hành sa sút… làm người đọc thấy thật, thấy giống mình, nên dễ tin. 2. Giọng điệu gần gũi, trò chuyện, hướng thẳng tới người đọc Cách xưng “tôi” – “bạn của tôi!”, cách tâm sự kiểu bạn bè khiến bài mềm mại, không lên lớp, đọc không bị phản cảm. Nội dung nhờ thế thấm tự nhiên. 3. Lập luận rõ ràng: chỉ ra cả mặt lợi lẫn mặt hại Không cực đoan: bài thừa nhận điện thoại thông minh có ích, rồi mới phân tích mặt tiêu cực. Cách nhìn hai chiều giúp quan điểm đáng tin hơn. 4. Ví dụ cụ thể, sinh động Những biểu hiện nghiện điện thoại được mô tả rất chi tiết: mất ngủ, giảm thị lực, học nhanh – trả bài vội, thờ ơ với gia đình… Đây là bằng chứng thuyết phục người đọc rằng vấn đề có thật và nghiêm trọng. 5. Thông điệp tích cực và giải pháp thực tế Bài không chỉ than phiền mà còn gợi mở cách thay đổi: nhận thức rõ ràng, quyết tâm, có người thân hỗ trợ. Kết thúc bằng hình ảnh “để điện thoại trong túi, nhìn vào mắt nhau” rất đẹp và giàu sức gợi. 6. Ngôn ngữ giàu cảm xúc, hình ảnh Các phép so sánh (“điện thoại như người thích làm nũng”), lời nhắn nhủ hài hước (“mày nhớ, đừng mè nheo nữa nhé!”) khiến bài mềm mại, dễ nhớ, tạo ấn tượng mạnh. 7. Tính thời sự và gần gũi Chủ đề nghiện smartphone quá quen với người trẻ. Bài chạm đúng vấn đề của nhiều người nên tự nhiên đã có sức thuyết phục.
- Hệ thống luận điểm:
+ Luận điểm 1: Hiện trạng bệnh nghiện điện thoại thông minh đang diễn ra hiện nay.
+ Luận điểm 2: Nguyên nhân của bệnh nghiện điện thoại thông minh: xuất phát từ những lợi ích mà điện thoại thông minh đem lại cho người dùng.
+ Luận điểm 3: Trải nghiệm cá nhân của người viết và những hậu quả đã diễn ra.
+ Luận điểm 4: Đề xuất giải pháp và thông điệp.
=> Việc triển khai hệ thống luận điểm trong văn bản rất mạch lạc và hợp lý. Tác giả bắt đầu từ việc nêu hiện tượng nghiện điện thoại thông minh, sau đó phân tích cả mặt lợi lẫn mặt hại của thiết bị, rồi đi sâu vào những hậu quả qua trải nghiệm thực tế của chính mình. Từ đó, bài viết mở ra hướng khắc phục và kết lại bằng thông điệp: con người phải là chủ của công cụ, không để điện thoại chi phối. Trình tự lập luận rõ ràng, các luận điểm liên kết chặt chẽ, tạo nên sức thuyết phục tự nhiên cho văn bản.
Luận đề của văn bản là: Bệnh nghiện điện thoại thông minh trong xã hội hiện nay.
Tác giả dẫn ý kiến của các nhà thơ, nhà văn lớn trên thế giới (Ét-mông Gia-bét - Edmond Jabès, Gít-đơ - Gide, Pét-xoa – Pessoa) + Ét-mông Gia-bét nói đến vai trò của sáng tạo ngôn từ trong việc xác định danh vị đích thực của nhà thơ. + Lê Đạt lại phát triển thêm, cho rằng mỗi lần sáng tạo tác phẩm mới lại một lần nhà thơ phải vật lộn với chữ. + "Nhà thơ" không phải là danh vị được tạo một lần cho mãi mãi. Nó có thể bị tước đoạt nếu nhà thơ không chịu khổ công lao động với ngôn từ mỗi khi viết một bài thơ mới.
Tác giả tranh luận với hai quan niệm khá phổ biến: - Quan điểm thứ nhất: Không đồng tình: thơ gắn liền với những cảm xúc bột phát, "bốc đồng", làm thơ không cần cố gắng.
+ Lí lẽ:
• Những cơn bốc đồng thường ngắn ngủi.
+ Bằng chứng:
• Lép-tôn-xtôi chữa đi chữa lại nhiều lần tiểu thuyết.
• Phlô-be cân nhắc chữ trên cân tiểu li.
- Quan điểm thứ hai: Không đồng tình: Thơ là vấn đề của những năng khiếu đặc biệt, xa lạ với lao động lầm lũi và nỗ lực trau dồi học vấn.
+ Lí lẽ:
• Những câu thơ là kết quả thành tâm kiên trì, một đa mang đắm đuối.
• Nhà thơ cần học tập và rèn luyện suốt đời.
• Nếu sống bằng vốn trời cho sẽ sớm tàn lụi.
+ Bằng chứng:
• Câu nói của Trang Tử "vứt thánh bỏ trí".
• Những nhà thơ như Lý Bạch, Xa-a-đi, Gớt, Ta-go
• "Gia-bét muốn nói rằng không có chức nhà thơ suốt đời. Mỗi lần làm một bài thơ, nhà thơ lại phải ứng cử trong một cuộc bầu khắc nghiệt của cử tri chữ."
=> Nhận xét tính thuyết phục của những lí lẽ, bằng chứng mà tác giả nêu lên: + Lập luận chặt chẽ, đưa dẫn chứng: Tôn-xtôi, Phlô-be, câu nói Trang Tử. + Đưa ra những đối chiếu, so sánh: đánh quả, trúng số độc đắc. + Thái độ, nhận định rõ ràng: nhưng là, đã chứ, tôi rất ghét, tôi không mê. + Thể hiện sự hiểu biết, trải nghiệm của cá nhân: tôi rất biết.
Ý kiến đã nêu lên quá trình sáng tạo nên con chữ đầy khổ công của nhà thơ. Giống như những người nông dân miệt mài, cần mẫn, vất vả, khổ công để tạo nên một mùa màng bội thu, nhà thơ cũng phải dành hết những công sức của chính mình, không màng sương gió mà "lầm lũi" trên "cánh đồng giấy" để đổi lấy con chữ. Sự lao khổ và thành tựu cuối cùng có được đều do sự lao động vất vả, nghiêm túc, tâm huyết mà có.
- Tác giả "rất ghét" cái quan niệm: các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng lụi tàn"; tác giả "không mê" các nhà thơ thần đồng, những người sống bằng vốn trời cho.
- Tác giả "ưa" những nhà thơ chăm chỉ làm việc trên cánh đồng giấy, tích góp từng câu chữ, hạt chữ.