Nguyễn Thị Thu Uyên
Giới thiệu về bản thân
Câu 1
Môi trường là không gian sống thiết yếu của con người, đồng thời là nền tảng quan trọng bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự sống trên Trái Đất, vì vậy việc bảo vệ môi trường có ý nghĩa vô cùng to lớn và cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Trước hết, môi trường có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của con người, bởi không khí trong lành, nguồn nước sạch và hệ sinh thái cân bằng là những điều kiện cơ bản giúp con người tồn tại và phát triển một cách bền vững. Khi môi trường bị ô nhiễm, con người sẽ phải đối mặt với hàng loạt vấn đề nghiêm trọng như các bệnh về hô hấp, nguồn nước bị nhiễm độc, thực phẩm không an toàn, thậm chí là các thảm họa thiên nhiên ngày càng khốc liệt như lũ lụt, hạn hán và bão lớn. Bên cạnh đó, môi trường còn đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội, bởi tài nguyên thiên nhiên như rừng, đất, nước và khoáng sản là nguồn lực thiết yếu cho các hoạt động sản xuất, từ nông nghiệp, công nghiệp cho đến du lịch. Nếu con người khai thác tài nguyên một cách bừa bãi, thiếu kiểm soát thì những nguồn lực này sẽ nhanh chóng cạn kiệt, gây ra những hậu quả lâu dài và khó khắc phục, làm cản trở sự phát triển bền vững của đất nước. Không chỉ dừng lại ở giá trị vật chất, môi trường còn gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của con người, là nguồn cảm hứng cho văn học, nghệ thuật và là nơi nuôi dưỡng tâm hồn, giúp con người tìm thấy sự bình yên, cân bằng trong cuộc sống. Khi thiên nhiên bị tàn phá, con người không chỉ mất đi nơi sinh sống mà còn phải đối diện với những tổn thương tâm lí sâu sắc, cảm giác mất mát và bất an về tương lai. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy vẫn còn rất nhiều người chưa có ý thức bảo vệ môi trường, thể hiện qua những hành vi như xả rác bừa bãi, sử dụng tài nguyên lãng phí, phá rừng hay gây ô nhiễm nguồn nước và không khí. Những hành động tưởng chừng nhỏ bé nhưng lại góp phần làm gia tăng tốc độ suy thoái môi trường, đẩy con người đến gần hơn với những khủng hoảng sinh thái nghiêm trọng. Chính vì vậy, mỗi cá nhân cần nâng cao nhận thức và có những hành động cụ thể, thiết thực để bảo vệ môi trường như tiết kiệm điện và nước, hạn chế sử dụng túi ni-lông và đồ nhựa dùng một lần, trồng và bảo vệ cây xanh, tham gia các hoạt động cộng đồng nhằm giữ gìn môi trường sống xanh – sạch – đẹp. Tóm lại, bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của riêng ai mà là nghĩa vụ chung của toàn nhân loại, bởi đó chính là bảo vệ cuộc sống hiện tại và tương lai của chính chúng ta; chỉ khi con người biết sống hài hòa với thiên nhiên, tôn trọng và gìn giữ môi trường thì mới có thể hướng tới một sự phát triển bền vững và lâu dài.
Câu 2
Trong dòng chảy của văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ là một biểu tượng đẹp, thể hiện nhân cách cao quý và lối sống thanh cao của các trí thức trước thời cuộc. Qua hai bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, hình tượng người ẩn sĩ được khắc họa với những nét tương đồng nhưng cũng mang những sắc thái riêng, phản ánh quan niệm sống và tâm trạng của từng tác giả.
Trước hết, điểm gặp gỡ rõ nét giữa hai bài thơ là hình ảnh người ẩn sĩ sống hòa mình với thiên nhiên, tìm kiếm sự thanh thản trong tâm hồn. Trong bài “Nhàn”, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã vẽ nên một cuộc sống giản dị, gần gũi với thiên nhiên qua những hình ảnh quen thuộc: “Một mai, một cuốc, một cần câu”. Những công cụ lao động mộc mạc gợi lên một cuộc sống tự cung tự cấp, không vướng bận danh lợi. Nhịp điệu thơ chậm rãi, ung dung thể hiện tâm thế thư thái của một con người đã rũ bỏ mọi bon chen. Thiên nhiên hiện lên qua bốn mùa: “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá / Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”, tạo nên một bức tranh cuộc sống hài hòa, thuận theo quy luật tự nhiên.
Tương tự, trong bài thơ của Nguyễn Khuyến, thiên nhiên cũng trở thành không gian sống và là nơi gửi gắm tâm hồn của người ẩn sĩ. Bức tranh mùa thu hiện lên với những nét chấm phá tinh tế: “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao / Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu”. Không gian yên tĩnh, trong trẻo và có phần hiu quạnh gợi lên tâm trạng trầm lắng của thi nhân. Người ẩn sĩ ở đây cũng sống gần gũi với thiên nhiên, tìm thấy sự an ủi trong cảnh vật thanh sơ, tĩnh lặng.
Tuy nhiên, nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện một thái độ sống chủ động, dứt khoát lựa chọn con đường “nhàn”, thì Nguyễn Khuyến lại mang tâm trạng phức tạp, vừa muốn ẩn dật vừa không khỏi vướng bận với thời cuộc. Trong “Nhàn”, tác giả thể hiện rõ quan niệm sống của mình qua cặp đối lập: “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ / Người khôn, người đến chốn lao xao”. Cách nói ngược “ta dại” thực chất là lời khẳng định sự khôn ngoan của người biết tránh xa danh lợi. Đó là một lựa chọn có ý thức, thể hiện bản lĩnh và nhân cách cao đẹp. Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ sống nhàn mà còn nhìn thấu bản chất phù phiếm của phú quý: “Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”. Vì vậy, hình tượng người ẩn sĩ trong bài thơ mang vẻ ung dung, tự tại, đạt đến sự an nhiên trong tâm hồn.
Ngược lại, trong bài thơ của Nguyễn Khuyến, dù cũng sống ẩn dật nhưng tâm trạng của ông lại chất chứa nhiều nỗi niềm. Cảnh thu tuy đẹp nhưng phảng phất nỗi buồn: “Nước biếc trông như tầng khói phủ / Song thưa để mặc bóng trăng vào”. Không gian tĩnh lặng đến mức gợi cảm giác cô đơn, trống vắng. Đặc biệt, câu thơ “Nhân hứng cũng vừa toan cất bút / Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” cho thấy sự tự vấn của tác giả. “Ông Đào” ở đây là Đào Uyên Minh – một ẩn sĩ nổi tiếng của Trung Quốc. Nguyễn Khuyến “thẹn” vì cảm thấy mình chưa thể đạt đến sự thanh cao, dứt khoát như tiền nhân. Điều đó cho thấy ông vẫn còn nặng lòng với thời cuộc, với trách nhiệm của một trí thức trước vận mệnh đất nước.
Sự khác biệt này xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử và vị thế cá nhân của hai tác giả. Nguyễn Bỉnh Khiêm sống trong thời kỳ xã hội phong kiến còn tương đối ổn định, ông chủ động rút lui khỏi chốn quan trường để giữ gìn nhân cách. Trong khi đó, Nguyễn Khuyến sống vào thời điểm đất nước rơi vào tay thực dân, bản thân ông từng làm quan nhưng sau đó cáo quan về quê. Sự bất lực trước thời cuộc khiến ông lựa chọn ẩn dật, nhưng trong lòng vẫn không nguôi day dứt. Vì vậy, hình tượng người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Khuyến mang màu sắc bi kịch, vừa thanh cao vừa trĩu nặng tâm tư.
Xét về nghệ thuật, cả hai bài thơ đều sử dụng bút pháp tả cảnh ngụ tình, lấy thiên nhiên làm phương tiện biểu đạt tâm trạng. Ngôn ngữ thơ giản dị, giàu hình ảnh, đậm chất dân tộc. Tuy nhiên, giọng điệu của “Nhàn” mang tính triết lí, khẳng định rõ ràng quan niệm sống, còn bài thơ của Nguyễn Khuyến lại thiên về trữ tình, bộc lộ tâm trạng sâu kín và tinh tế.
Tóm lại, qua hai bài thơ, hình tượng người ẩn sĩ hiện lên với những nét đẹp chung: sống hòa hợp với thiên nhiên, coi nhẹ danh lợi và hướng tới sự thanh cao trong tâm hồn. Tuy nhiên, mỗi tác giả lại gửi gắm vào đó những suy tư riêng, tạo nên những sắc thái khác biệt. Nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm là hình ảnh của một ẩn sĩ ung dung, tự tại, đạt đến sự an nhiên, thì Nguyễn Khuyến lại là một ẩn sĩ mang nỗi buồn thời thế, luôn trăn trở và tự vấn. Sự gặp gỡ và khác biệt ấy đã góp phần làm phong phú thêm hình tượng người ẩn sĩ trong văn học trung đại Việt Nam.
Câu 1.
Hiện tượng “tiếc thương sinh thái” là trạng thái đau khổ, mất mát về mặt tâm lí của con người trước những tổn thất của môi trường tự nhiên do biến đổi khí hậu gây ra (đã xảy ra hoặc được dự báo sẽ xảy ra).
Câu 2.
Bài viết trình bày theo trình tự: từ khái quát (giới thiệu hiện tượng) → giải thích khái niệm → đưa dẫn chứng cụ thể → mở rộng, phân tích tác động → khái quát thực trạng hiện nay.
Câu 3.
Tác giả sử dụng các bằng chứng như:
- Nghiên cứu khoa học của Ashlee Cunsolo và Neville R. Ellis.
- Trường hợp thực tế của người Inuit (Canada) và nông dân Australia.
- Dẫn chứng về các cộng đồng bản địa ở Brazil khi rừng Amazon cháy.
- Kết quả khảo sát năm 2021 của Caroline Hickman về giới trẻ ở nhiều quốc gia.
Câu 4.
Tác giả tiếp cận vấn đề biến đổi khí hậu từ góc độ tâm lí – xã hội, không chỉ nhấn mạnh hậu quả vật chất mà còn làm nổi bật tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần con người; cách tiếp cận này mới mẻ, nhân văn và có sức cảnh tỉnh cao.
Câu 5.
Thông điệp: Biến đổi khí hậu không chỉ hủy hoại môi trường mà còn gây tổn thương tinh thần nghiêm trọng cho con người; vì vậy, mỗi người cần ý thức rõ trách nhiệm bảo vệ thiên nhiên để gìn giữ cả sự sống và bản sắc tinh thần của chính mình.