Nguyễn Minh Thu

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Minh Thu
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Đích đến suốt đời của con người là đi tìm cái đẹp. Người ta mê đắm cái đẹp trong ánh nắng ban mai, ngất ngây trước màu sắc hoàng hôn buổi chiều tà hay đắm chìm trong vẻ đẹp rực rỡ của bông hoa đang nở rộ hương sắc. Tất cả những vẻ đẹp làm con người si mê ấy đều là màu sắc, là tạo vật từ thiên nhiên. Nhưng vẻ đẹp ấy không phải là tồn tại vĩnh viễn, nó chỉ có thể thể hiện những góc cạnh đẹp nhất khi có bàn tay nâng niu của con người. Bởi vậy, việc bảo vệ môi trường là một điều hết sức quan trọng và cần thiết. Môi trường là không gian sống của con người và mọi sinh vật, bao gồm đất, nước, không khí,... Bảo vệ môi trường là những hành động nhằm hạn chế ô nhiễm, giữ gìn sự trong sạch của thiên nhiên và duy trì hệ sinh thái bền vững. Hiện nay, ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng: ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm nguồn đất,... Rừng bị chặt phá, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt. Biến đổi khí hậu gây ra thiên tai, bão lũ, sự nóng lên toàn cầu... Nguyên nhân là do con người ý thức kém, khai thác tài nguyên bừa bãi, xả rác thải không đúng nơi quy định. Do sự phát triển của nền công nghiệp, đô thị hóa thiếu kiểm soát. Do chính sách bảo vệ môi trường chưa được thực hiện triệt để. Để bảo vệ môi trường luôn xanh - sạch - đẹp thì trước hết chúng ta cần phải nâng cao ý thức trách nhiệm cá nhân: không xả rác bừa bãi, tiết kiệm tài nguyên, sử dụng sản phẩm thân thiện với môi trường. Chúng ta cần tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường như trồng cây, làm sạch môi trường, phân loại rác, tái chế rác thải. Chúng ta nên sử dụng những sản phẩm mà có thể tái chế, an toàn, bảo vệ môi trường...Ngoài ra, chúng ta cũng cần lan tỏa ý thức bảo vệ môi trường, tận dụng mạng xã hội để tuyên truyền, kêu gọi mọi người chung tay bảo vệ môi trường. "Trái Đất không thuộc về con người mà chính con người mới thuộc về Trái Đất". Bảo vệ môi trường không phải là trách nhiệm của riêng ai mà là nhiệm vụ chung của toàn nhân loại, đặc biệt là thế hệ trẻ- những người quyết định tương lai của đất nước.

Câu 2:

Văn học là hành trình khám phá con người và cuộc sống qua lăng kính cảm xúc của người nghệ sĩ. Mỗi tác phẩm là một tiếng nói riêng nhưng cùng hướng đến những giá trị chung của cái đẹp và cái thiện. Tác phẩm "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm và tác phẩm "Thu vịnh" của Nguyễn Khuyến tuy ra đời trong những hoàn cảnh khác nhau nhưng đều thể hiện tình yêu cuộc sống, niềm tin và khát vọng hướng đến điều tốt đẹp.

Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng nhà Nho ẩn dật không chỉ là biểu hiện của lối sống thoát tục mà còn là tấm gương phản chiếu trái độ của tri thức trước thời cuộc. Qua bài "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm và "Thu vịnh" của Nguyễn Khuyến, hình tượng ấy hiện lên vừa thống nhất ở lý tưởng sống thanh cao, vừa khác biệt ở chiều sâu tâm trạng và ý thức cá nhân.

Trước hết, ở Nguyễn Bỉnh Khiêm, hình ảnh một nhà Nho ẩn dật hiện ra với một sự lựa chọn dứt khoát, chủ động và đầy bản lĩnh. Ngay câu mở đầu "một mai, một cuốc, một cần câu" đã dựng lên nhịp sống khoan thai, giản dị. Điệp từ "một" kết hợp với phép liệt kê tạo cảm giác đủ đầy trong cái ít ỏi, cho thấy ông thiếu thốn mà đang tự tại với những gì mình có. Đó là cuộc sống lao động tự nhiên, hòa hợp với đất trời. Trạng thái "thơ thẩn" không phải là vô định mà là sự ung dung, vượt ra ngoài mọi bon chen. Đặc biệt, hai câu thực “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ/Người khôn, người đến chốn lao xao” thể hiện rõ quan niệm sống. Cách nói đối lập “ta – người”, “dại – khôn”, “vắng vẻ – lao xao” tạo nên một triết lí sâu sắc. Cái “dại” ở đây thực chất là cái “khôn lớn”, là sự tỉnh táo khi nhận ra bản chất phù du của danh lợi. Nguyễn Bỉnh Khiêm không chạy trốn mà chủ động rút lui, giữ cho mình sự thanh sạch. Chính vì vậy, hình tượng nhà Nho sĩ ẩn dật mang vẻ đẹp của trí tuệ và sự từng trải. Hai câu luận tiếp tục khắc họa cuộc sống “nhàn” qua vòng tuần hoàn bốn mùa: “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá/Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”. Nhịp thơ đều đặn, hình ảnh dân dã cho thấy sự hòa nhập tuyệt đối với thiên nhiên. Con người sống thuận theo tự nhiên, không cưỡng cầu, không xa hoa. Đỉnh cao tư tưởng dồn vào hai câu kết: “Rượu đến bóng cây ta hãy uống/Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”. Cái “nhàn” đạt tới triết lí: phú quý chỉ là giấc mộng, còn sự an nhiên mới là giá trị bền vững. Như vậy, nhà nho sĩ ẩn dật ở Nguyễn Bỉnh Khiêm là hình tượng mang tính lí tưởng, ung dung, tự tại và đầy tỉnh thức.

Trong khi đó, nhà nho sĩ ẩn dật ở Nguyễn Khuyến lại hiện lên tinh tế hơn về mặt cảm xúc và mang nặng tâm trạng thời thế. Ngay từ hai câu đề “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao/Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu” gợi không gian mở ra cao rộng nhưng tĩnh lặng. Màu “xanh ngắt” gợi sự trong trẻo, nhưng cái “lơ phơ”, “hắt hiu” lại nhuốm màu cô quạnh. Thiên nhiên không chỉ là cảnh mà còn là tâm trạng. Đến hai câu thực “Nước biếc trông như tầng khói phủ/Song thưa để mặc bóng trăng vào” khắc họa bức tranh thu trở nên mờ ảo, tĩnh tại. Động từ “để mặc” cho thấy một thái độ buông bỏ, không can thiệp, như thể con người đã rút lui khỏi mọi xô bồ. Tuy nhiên, sự “để mặc” ấy không hoàn toàn thanh thản mà ẩn chứa nỗi cô đơn, trống vắng. Hai câu luận “Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái/Một tiếng trên không ngỗng nước nào?” lại gợi thời gian trôi và nỗi niềm hoài cổ. “Hoa năm ngoái” là dấu hiệu của quá khứ, còn “tiếng ngỗng” vang lên trong không gian vắng lặng càng làm tăng cảm giác cô tịch. Thiên nhiên đẹp nhưng buồn, phản chiếu tâm trạng của một con người đã lui về ở ẩn nhưng lòng chưa thực sự yên. Đỉnh điểm chính là hai câu kết: “Nhân hứng cũng vừa toan cất bút/Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào”. Cái “thẹn” ở đây hướng tới Đào Uyên Minh- biểu tượng của lối sống ẩn dật thanh cao. Nguyễn Khuyến tự thấy mình chưa đạt tới sự thoát tục tuyệt đối ấy. Điều này cho thấy người ẩn sĩ không hoàn toàn tự tại mà còn day dứt, tự vấn. Đó là nỗi niềm của một nhà nho trước thời thế rối ren: muốn lánh đời nhưng không thể dứt bỏ hoàn toàn trách nhiệm và tâm sự với đời.

Có thể thấy điểm chung là đều hướng đến lối sống thanh cao, hòa hợp với thiên nhiên, phủ nhận danh lợi. Tuy nhiên, sự khác biệt nằm ở chiều sâu tâm thế. Nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm là ẩn sĩ mang tính triết lí, chủ động và đạt tới sự an nhiên tuyệt đối, thì Nguyễn Khuyến lại là ẩn sĩ mang tâm trạng, vừa ẩn dật vừa trăn trở. Một bên là sự “nhàn” của trí tuệ tỉnh táo, một bên là cái “nhàn” nhuốm màu cô đơn và tự vấn.

Về nghệ thuật, “Nhàn” giản dị, mộc mạc mà hàm chứa triết lí sâu xa; còn thơ Nguyễn Khuyến tinh tế, giàu chất họa, gợi nhiều hơn tả. Chính sự khác biệt này đã làm nổi bật hai phong cách thơ tiêu biểu của văn học trung đại.

Tóm lại, qua hai bài thơ, hình tượng người ẩn sĩ không chỉ là biểu tượng của lối sống thoát tục mà còn phản ánh sâu sắc tâm thế của trí thức Việt Nam ở những thời đại khác nhau. Một bên ung dung tự tại, một bên trầm tư day dứt, cả hai cùng góp phần làm nên vẻ đẹp đa chiều của văn học dân tộc.

Qua việc so sánh hai tác phẩm, ta càng trân trọng hơn giá trị tư tưởng và vẻ đẹp nghệ thuật mà mỗi tác giả gửi gắm. Dù khác nhau ở cách thể hiện, cả hai đều gặp gỡ ở chiều sâu nhân văn và sức lay động của cảm xúc. Chính điều đó làm nên sức sống bền bỉ của văn chương và ý nghĩa nhân sinh vượt thời gian.

Câu 1:

Đích đến suốt đời của con người là đi tìm cái đẹp. Người ta mê đắm cái đẹp trong ánh nắng ban mai, ngất ngây trước màu sắc hoàng hôn buổi chiều tà hay đắm chìm trong vẻ đẹp rực rỡ của bông hoa đang nở rộ hương sắc. Tất cả những vẻ đẹp làm con người si mê ấy đều là màu sắc, là tạo vật từ thiên nhiên. Nhưng vẻ đẹp ấy không phải là tồn tại vĩnh viễn, nó chỉ có thể thể hiện những góc cạnh đẹp nhất khi có bàn tay nâng niu của con người. Bởi vậy, việc bảo vệ môi trường là một điều hết sức quan trọng và cần thiết. Môi trường là không gian sống của con người và mọi sinh vật, bao gồm đất, nước, không khí,... Bảo vệ môi trường là những hành động nhằm hạn chế ô nhiễm, giữ gìn sự trong sạch của thiên nhiên và duy trì hệ sinh thái bền vững. Hiện nay, ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng: ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm nguồn đất,... Rừng bị chặt phá, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt. Biến đổi khí hậu gây ra thiên tai, bão lũ, sự nóng lên toàn cầu... Nguyên nhân là do con người ý thức kém, khai thác tài nguyên bừa bãi, xả rác thải không đúng nơi quy định. Do sự phát triển của nền công nghiệp, đô thị hóa thiếu kiểm soát. Do chính sách bảo vệ môi trường chưa được thực hiện triệt để. Để bảo vệ môi trường luôn xanh - sạch - đẹp thì trước hết chúng ta cần phải nâng cao ý thức trách nhiệm cá nhân: không xả rác bừa bãi, tiết kiệm tài nguyên, sử dụng sản phẩm thân thiện với môi trường. Chúng ta cần tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường như trồng cây, làm sạch môi trường, phân loại rác, tái chế rác thải. Chúng ta nên sử dụng những sản phẩm mà có thể tái chế, an toàn, bảo vệ môi trường...Ngoài ra, chúng ta cũng cần lan tỏa ý thức bảo vệ môi trường, tận dụng mạng xã hội để tuyên truyền, kêu gọi mọi người chung tay bảo vệ môi trường. "Trái Đất không thuộc về con người mà chính con người mới thuộc về Trái Đất". Bảo vệ môi trường không phải là trách nhiệm của riêng ai mà là nhiệm vụ chung của toàn nhân loại, đặc biệt là thế hệ trẻ- những người quyết định tương lai của đất nước.

Câu 2:

Văn học là hành trình khám phá con người và cuộc sống qua lăng kính cảm xúc của người nghệ sĩ. Mỗi tác phẩm là một tiếng nói riêng nhưng cùng hướng đến những giá trị chung của cái đẹp và cái thiện. Tác phẩm "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm và tác phẩm "Thu vịnh" của Nguyễn Khuyến tuy ra đời trong những hoàn cảnh khác nhau nhưng đều thể hiện tình yêu cuộc sống, niềm tin và khát vọng hướng đến điều tốt đẹp.

Trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng nhà Nho ẩn dật không chỉ là biểu hiện của lối sống thoát tục mà còn là tấm gương phản chiếu trái độ của tri thức trước thời cuộc. Qua bài "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm và "Thu vịnh" của Nguyễn Khuyến, hình tượng ấy hiện lên vừa thống nhất ở lý tưởng sống thanh cao, vừa khác biệt ở chiều sâu tâm trạng và ý thức cá nhân.

Trước hết, ở Nguyễn Bỉnh Khiêm, hình ảnh một nhà Nho ẩn dật hiện ra với một sự lựa chọn dứt khoát, chủ động và đầy bản lĩnh. Ngay câu mở đầu "một mai, một cuốc, một cần câu" đã dựng lên nhịp sống khoan thai, giản dị. Điệp từ "một" kết hợp với phép liệt kê tạo cảm giác đủ đầy trong cái ít ỏi, cho thấy ông thiếu thốn mà đang tự tại với những gì mình có. Đó là cuộc sống lao động tự nhiên, hòa hợp với đất trời. Trạng thái "thơ thẩn" không phải là vô định mà là sự ung dung, vượt ra ngoài mọi bon chen. Đặc biệt, hai câu thực “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ/Người khôn, người đến chốn lao xao” thể hiện rõ quan niệm sống. Cách nói đối lập “ta – người”, “dại – khôn”, “vắng vẻ – lao xao” tạo nên một triết lí sâu sắc. Cái “dại” ở đây thực chất là cái “khôn lớn”, là sự tỉnh táo khi nhận ra bản chất phù du của danh lợi. Nguyễn Bỉnh Khiêm không chạy trốn mà chủ động rút lui, giữ cho mình sự thanh sạch. Chính vì vậy, hình tượng nhà Nho sĩ ẩn dật mang vẻ đẹp của trí tuệ và sự từng trải. Hai câu luận tiếp tục khắc họa cuộc sống “nhàn” qua vòng tuần hoàn bốn mùa: “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá/Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”. Nhịp thơ đều đặn, hình ảnh dân dã cho thấy sự hòa nhập tuyệt đối với thiên nhiên. Con người sống thuận theo tự nhiên, không cưỡng cầu, không xa hoa. Đỉnh cao tư tưởng dồn vào hai câu kết: “Rượu đến bóng cây ta hãy uống/Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”. Cái “nhàn” đạt tới triết lí: phú quý chỉ là giấc mộng, còn sự an nhiên mới là giá trị bền vững. Như vậy, nhà nho sĩ ẩn dật ở Nguyễn Bỉnh Khiêm là hình tượng mang tính lí tưởng, ung dung, tự tại và đầy tỉnh thức.

Trong khi đó, nhà nho sĩ ẩn dật ở Nguyễn Khuyến lại hiện lên tinh tế hơn về mặt cảm xúc và mang nặng tâm trạng thời thế. Ngay từ hai câu đề “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao/Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu” gợi không gian mở ra cao rộng nhưng tĩnh lặng. Màu “xanh ngắt” gợi sự trong trẻo, nhưng cái “lơ phơ”, “hắt hiu” lại nhuốm màu cô quạnh. Thiên nhiên không chỉ là cảnh mà còn là tâm trạng. Đến hai câu thực “Nước biếc trông như tầng khói phủ/Song thưa để mặc bóng trăng vào” khắc họa bức tranh thu trở nên mờ ảo, tĩnh tại. Động từ “để mặc” cho thấy một thái độ buông bỏ, không can thiệp, như thể con người đã rút lui khỏi mọi xô bồ. Tuy nhiên, sự “để mặc” ấy không hoàn toàn thanh thản mà ẩn chứa nỗi cô đơn, trống vắng. Hai câu luận “Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái/Một tiếng trên không ngỗng nước nào?” lại gợi thời gian trôi và nỗi niềm hoài cổ. “Hoa năm ngoái” là dấu hiệu của quá khứ, còn “tiếng ngỗng” vang lên trong không gian vắng lặng càng làm tăng cảm giác cô tịch. Thiên nhiên đẹp nhưng buồn, phản chiếu tâm trạng của một con người đã lui về ở ẩn nhưng lòng chưa thực sự yên. Đỉnh điểm chính là hai câu kết: “Nhân hứng cũng vừa toan cất bút/Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào”. Cái “thẹn” ở đây hướng tới Đào Uyên Minh- biểu tượng của lối sống ẩn dật thanh cao. Nguyễn Khuyến tự thấy mình chưa đạt tới sự thoát tục tuyệt đối ấy. Điều này cho thấy người ẩn sĩ không hoàn toàn tự tại mà còn day dứt, tự vấn. Đó là nỗi niềm của một nhà nho trước thời thế rối ren: muốn lánh đời nhưng không thể dứt bỏ hoàn toàn trách nhiệm và tâm sự với đời.

Có thể thấy điểm chung là đều hướng đến lối sống thanh cao, hòa hợp với thiên nhiên, phủ nhận danh lợi. Tuy nhiên, sự khác biệt nằm ở chiều sâu tâm thế. Nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm là ẩn sĩ mang tính triết lí, chủ động và đạt tới sự an nhiên tuyệt đối, thì Nguyễn Khuyến lại là ẩn sĩ mang tâm trạng, vừa ẩn dật vừa trăn trở. Một bên là sự “nhàn” của trí tuệ tỉnh táo, một bên là cái “nhàn” nhuốm màu cô đơn và tự vấn.

Về nghệ thuật, “Nhàn” giản dị, mộc mạc mà hàm chứa triết lí sâu xa; còn thơ Nguyễn Khuyến tinh tế, giàu chất họa, gợi nhiều hơn tả. Chính sự khác biệt này đã làm nổi bật hai phong cách thơ tiêu biểu của văn học trung đại.

Tóm lại, qua hai bài thơ, hình tượng người ẩn sĩ không chỉ là biểu tượng của lối sống thoát tục mà còn phản ánh sâu sắc tâm thế của trí thức Việt Nam ở những thời đại khác nhau. Một bên ung dung tự tại, một bên trầm tư day dứt, cả hai cùng góp phần làm nên vẻ đẹp đa chiều của văn học dân tộc.

Qua việc so sánh hai tác phẩm, ta càng trân trọng hơn giá trị tư tưởng và vẻ đẹp nghệ thuật mà mỗi tác giả gửi gắm. Dù khác nhau ở cách thể hiện, cả hai đều gặp gỡ ở chiều sâu nhân văn và sức lay động của cảm xúc. Chính điều đó làm nên sức sống bền bỉ của văn chương và ý nghĩa nhân sinh vượt thời gian.