Nguyễn Công Thịnh
Giới thiệu về bản thân
Câu 1. Thể thơ của văn bản trên là:
Lục bát.
Câu 2.
Hai nhân vật Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở "lầu xanh ".
Câu 3.
Nhận xét về ngôn ngữ nói của nhân vật Thúy Kiều qua bốn câu thơ: Dịu dàng, từ tốn; sử dụng điển cố, điển tích; vận dụng lối nói ẩn dụ, bóng gió để gởi gắm tâm tư, tình cảm của bản thân.
Câu 4. Nhận xét về nhân vật Từ Hải qua đoạn trích:
+ Ngoại hình: Oai phong
+ Ngôn ngữ: Nhẹ nhàng, từ tốn, phóng khoáng.
+ Hành động: Tôn trọng Kiều , xem Kiều như người tri kỉ, cứu Kiều ra khỏi lầu xanh
=> Hành động nhanh chóng, dứt khoát.
Câu 5:
Sự đồng cảm, xót thương cho số phận Thúy Kiều và niềm tin vào tình yêu, công lý.Đoạn trích khơi gợi sự đồng cảm sâu sắc với số phận bi kịch, đầy tủi nhục của Thúy Kiều.Thể hiện niềm tin vào tình yêu chân thành, sự gặp gỡ định mệnh giữa hai con người tài hoa, bạc mệnh.Tình cảm trân trọng đối với nhân vật Từ Hải, biểu tượng của người anh hùng dám hành động, mang lại hy vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn cho Kiều.Khẳng định giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm Nguyễn Du, lên án xã hội phong kiến bất công và đề cao khát vọng hạnh phúc con người.
Câu 1:
Đoạn trích trong Truyện Kiều thể hiện rõ tài năng nghệ thuật của Nguyễn Du qua bút pháp lí tưởng hóa và nghệ thuật xây dựng nhân vật đặc sắc. Trước hết, hình tượng Từ Hải được khắc họa với tầm vóc phi thường qua những hình ảnh ước lệ, giàu tính sử thi như “đội trời đạp đất”, “gươm đàn nửa gánh non sông một chèo”. Những từ ngữ ấy không chỉ làm nổi bật khí phách anh hùng mà còn mở ra không gian rộng lớn, khẳng định chí lớn và khát vọng tung hoành của nhân vật. Bên cạnh đó, nghệ thuật đối thoại được sử dụng linh hoạt, trang trọng và hàm súc. Lời lẽ của Từ Hải và Thúy Kiều vừa thể hiện sự trân trọng, vừa cho thấy sự đồng điệu về tâm hồn và tri thức. Việc sử dụng điển tích như “Bình Nguyên Quân”, “Tấn Dương” góp phần tăng tính trang nhã, bác học cho đoạn thơ, đồng thời làm nổi bật vẻ đẹp trí tuệ của hai nhân vật. Ngoài ra, thể thơ lục bát truyền thống được vận dụng điêu luyện, nhịp điệu cân xứng, hài hòa, tạo nên âm hưởng trang trọng, phù hợp với cuộc gặp gỡ giữa anh hùng và giai nhân. Tất cả những yếu tố đó đã góp phần làm nên giá trị nghệ thuật đặc sắc của đoạn trích.
Câu hai:
hôm nay chúng ta chiêm nghiệm về cái gọi là"Lòng tốt" .Từ bé ta tin rằng cứ dịu dàng cứ bao dung rồi thế gian sẽ đối đãi với ta bằng sự tương xứng,ta học cách nói vâng khi lòng muốn nói không,ta học cách mỉm cười khi giới hạn của mình bị dẫm đạp,chúng ta tự huyễn hoặc chứng minh rằng đó là đức hạnh, là sự cao thượng.Nhưng bạn có bao giờ tự hỏi tại SAO sự "tử tế" của bạn lại khiến bạn kiệt sức, còn những kẻ trục lợi từ bạn lại ngày càng thản nhiên.Khi bạn bao dung Cho một kẻ vô ơn,bạn đang nuôi dưỡng sự tham Lam trong họ, khi bạn im lặng trước sự bất công để giữ lấy hòa khí giả tạo, bạn đang trực tiếp tiếp tay cho cái sai hoành hành. Lòng tốt không có giới hạn chính là sự đồng loạ vô hình,sự tử tế mù quáng không làm thế giới tốt đẹp hơn, nó chỉ làm Cho những kẻ ích kỷ có thêm mảnh đất màu mỡ để gieo rắc sự tổn thương.Một người tốt thật sự là người có khả năng gây tổn thương nhưng chọn cách bao dung chứ không phải một người không thể gây tổn thương nên đành phải nhẫn nhịn, sự tử tế phải có xương sống nó phải đi kèm với khả năng từ chối với quyền năng thiết lập ranh giới và lòng dũng cảm để nói lên sự thật, đừng để sự dịu dàng của bạn trở thành một loại tài nguyên "miễn phí" cho những kẻ cơ hội khai thác đến cạn kiệt. Hãy là một người tử tế nhưng hãy là một người tử tế có thanh gương trong tay. Bạn tử tế vì đó là giá trị bạn chọn lựa, không phải vì bạn sợ hãi sự xung đột. :òng tốt chỉ thực sự rực rỡ khi nó được đặt trên nền tảng cuẩ sự tỉnh táo và tự trọng. Đừng biến mình thành đóa hoa không gai để bất cứ ai cũng có thể tùy tiện hái xuống và vứt bỏ. Hãy sống sao cho lòng tốt của bạn vừa có sự ấm áp để sưởi ấm những người xứng đáng, vừa có đủ sư"sắc lạnh" để khiến kẻ xấu phải biết điểm dừng. Bởi vì suy cho cùng đức hạnh mà không có bản lĩnh thì chỉ là lâu đài cát trước sóng dữ.