Nguyễn Anh Thơ

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Anh Thơ
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

- Địa hình, đất: + Đồng bằng sông Cửu Long là đồng bằng châu thổ lớn nhất nước ta, bề mặt bằng phẳng. + Diện tích rộng, đặc biệt là dải đất phù sa ngọt dọc sông Tiền, sông Hậu. Cùng với các loại đất phù sa khác ( đất phèn, đất mặn), đất ở Đồng bằng sông Cửu Long là một thế mạnh quan trọng hàng đầu để phát triển trên quy mô lớn sản xuất cây lương thực, thực phẩm, đặc biệt là cây lúa. - Khí hậu + Thể hiện rõ tính chất cận xích đạo. Tổng số giờ nắng trung bình năm là 2 200 – 2 700 giờ. Chế độ nhiệt cao, ổn định với nhiệt độ trung bình năm 25 – 270C. Lượng mưa lớn ( 1 300 – 2 000 mm ), tập trung vào các tháng mùa mưa ( từ tháng 5 đến tháng 11 ). + Với khí hậu như vậy, hoạt động sản xuất lương thực, thực phẩm diễn ra liên tục quanh năm. - Sông ngòi: Mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, cắt xẻ châu thổ thành những ô vuông, có sông Tiền và sông Hậu là hai nhánh chính của sông Cửu Long cung cấp nguồn nước dồi dào cho nông nghiệp và thuận lợi để nuôi trồng thủy sản nước ngọt. - Sinh vật: Có các giống cây lương thực chất lượng tốt và thích hợp với điều kiện sinh thái địa phương. - Biển: + Đồng bằng sông Cửu Long có vùng biển rộng lớn, ngư trường Cà Mau – Kiên Giang với nhiều bãi cá, bãi tôm thuận lợi cho đánh bắt thủy sản. + Có nhiều vùng bãi triều rộng và rừng ngập mặn có khả năng nuôi trồng thủy sản nước mặn , nước lợ. - Khó khăn: Thiếu nước ngọt trong mùa khô; đất bị nhiễm phèn, nhiễm mặn.


A

- Nguồn lao động dồi dào, người dân có nhiều kinh nghiệm trong trồng và chế biến cây cà phê. - Công nghiệp chế biến được đầu tư về vốn, công nghệ; các cơ sở chế biến cà phê được phát triển rộng rãi góp phần phát triển ổn định sản xuất cà phê. - Thị trường trong và ngoài nước về cà phê mở rộng, đặc biệt nhu cầu xuất khẩu cà phê lớn; đã hình thành một số thương hiệu cà phê nổi tiếng. - Nhà nước có chính sách phát triển cây cà phê. Việc đầu tư thâm canh, áp dụng kĩ thuật tiên tiến về trồng, chăm sóc, thu hoạch, chế biến, bảo quản cà phê được đẩy mạnh.

B)

- Trung du và miền núi Bắc Bộ: + Đất và địa hình: Phần lớn diện tích đất feralit trên đá phiến, đa vôi và các loại đá mẹ khác; ngoài ra còn có đất phù sa cổ ( ở trung du ), đất phù sa dọc các thung lũng sông và các cánh đồng ở miền núi như Than Uyên, Nghĩa Lộ, Mường Thanh, Trùng Khánh,... + Khí hậu : Nhiệt đới ẩm gió mùa, có mùa đông lạnh, phân biệt rõ rệt theo độ cao địa hình, nên bên cạnh cây nhiệt đới có thuận lợi để phát triển cây công nghiệp có nguồn gốc cận nhiệt đới và ôn đới ( chè, cây dược liệu, rau, đậu,...) + Chuyên môn hóa sản xuất các cây công nghiệp có nguồn gốc cận nhiệt và ôn đới ( chè, trẩu, sở, hồi,...); đậu tương, lạc , thuốc lá,... + Có tác động thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa, tạo mô hình sản xuất mới, nâng cao thu nhập và đời sống người dân,... - Tây Nguyên: + Đất và địa hình: Tây Nguyên có đất đai màu mỡ, điển hình là đất đỏ badan ở trên các cao nguyên có bề mặt khá bằng phẳng, là thuận lợi chủ yếu để phát triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm quy mô lớn. + Khí hậu: Có tính chất cận xích đạo, phân hóa theo mùa rõ rệt, thuận lợi cho phát triển các cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới ( cà phê, cao su, hồ tiêu,...); các khu vực địa hình cao trên 1 000 m có khí hậu mát mẻ, trồng được cây công nghiệp lâu năm có nguồn gốc cận nhiệt ( chè ). + Chuyên môn hóa sản xuất các cây công nghiệp lâu năm nhiệt đới ( cà phê, cao su, hồ tiêu,...); cận nhiệt ( chè ). + Góp phần quan trọng vào xuất khẩu nông sản, phát triển kinh tế - xã hội của vùng và nâng cao đời sống nhân dân.

- Khai thác thủy sản: + Sản lượng tăng liên tục, chiếm gần 39% sản lượng thủy sản khai thác cả nước ( năm 2021 ). + Chủ yếu khai thác xa bờ. + Hệ thống dịch vụ hậu cần nghề cá được chú trọng xây dựng rộng rãi. + Các tỉnh có sản lượng lớn là : Kiên Giang, Cà Mau,Bến Tre, Tiền Giang,... - Nuôi trồng thủy sản: + Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản lớn, chiếm khoảng 72% cả nước ( năm 2021 ). + Sản lượng tăng nhanh, các đối tượng nuôi đa dạng: cá da trơn, cá chình, cá lóc, tôm sú, sò huyết, nghêu,... + Áp dụng rộng rãi các mô hình nuôi thâm canh và ứng dụng công nghệ cao. Đã hình thành các mô hình chuyên canh thủy sản, áp dụng công nghệ cao, tạo ra khối lượng hàng hóa lớn, hiệu quả, tăng lợi thế cạnh tranh trên thương trường quốc tế. + Các tỉnh có diện tích nuôi trồng lớn là: Cà Mau,Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng,... - Đồng bằng sông Cửu Long đóng góp tới 65% sản lượng nuôi trồng và 60% sản lượng cá xuất khẩu ( năm 2022 ). - Các sản phẩm chăn nuôi phong phú : Đàn lợn và đàn bò tăng khá nhanh; lợn phân bố tương đối đều theo các tỉnh, bò tập trung ở Trà Vinh,Bến Tre, An Giang. Đồng bằng sông Cửu Long là vùng nuôi vịt hàng hóa lớn nhất cả nước. - Đồng bằng sông Cửu Long đứng đầu cả nước về trồng rau các loại.