Nguyễn Thị Tấm
Giới thiệu về bản thân
a) Quan sát hình vẽ, ta thấy các nhiễm sắc thể đã tập trung thành một hàng ở mặt phẳng xích đạo của tế bào, đây là kì giữa của nguyên phân (mitosis). -Số lượng nhiễm sắc thể quan sát được: có 8 nhiễm sắc thể kép, nghĩa là bộ lưỡng bội 2n = 8. b)Vì là nguyên phân, mỗi tế bào con sẽ có số nhiễm sắc thể bằng tế bào mẹ, tức là 2n = 8 nhiễm sắc thể/tế bào con. -Tổng nhiễm sắc thể sau phân bào: 192. => Số tế bào con: 192 / 8 = 24 tế bào. => Vì mỗi nguyên phân tạo ra 2 tế bào con, nên: -Số tế bào ban đầu tham gia phân bào: 24 / 2 = 12 tế bào. *Đáp án: a) Kì giữa của nguyên phân; 2n = 8. b) Có 12 tế bào tham gia phân bào.
a) Sử dụng phương pháp trên (nhuộm Gram), có thể nghiên cứu được các đặc điểm sau của vi khuẩn: -Phân loại vi khuẩn theo Gram: Dựa vào màu sắc sau khi nhuộm, có thể phân biệt: -Vi khuẩn Gram dương (+): Bắt màu tím (do giữ được màu tím kết tinh sau khi rửa cồn). -Vi khuẩn Gram âm (-): Bắt màu đỏ/hồng (do bị mất màu tím sau khi rửa cồn và bắt màu fuchsin đỏ). -Hình dạng vi khuẩn: Quan sát được hình dạng như hình cầu (tụ cầu, liên cầu), hình que (trực khuẩn), hình xoắn… -Cách sắp xếp của vi khuẩn: Ví dụ: từng đôi, thành chuỗi, từng cụm… b) Các hình thức sinh sản của vi khuẩn gồm: -Phân đôi (phổ biến nhất). -Nảy chồi (ít gặp). -Tạo bào tử (trong điều kiện bất lợi, một số loại mới có). -Phương pháp nhuộm Gram không thể xác định được hình thức sinh sản của vi khuẩn. Vì nhuộm Gram chỉ cho thấy màu sắc và hình dạng vi khuẩn, không quan sát được quá trình phân chia hay cấu trúc bào tử rõ ràng. Để xác định hình thức sinh sản, cần dùng các phương pháp chuyên biệt hơn như nhuộm bào tử, soi kính hiển vi điện tử hoặc nuôi cấy theo thời gian để theo dõi quá trình phân chia.
*Các kiểu dinh dưỡng của vi sinh vật:
1. Quang tự dưỡng (Photolithoautotroph): -Nguồn năng lượng: Ánh sáng. -Nguồn carbon: CO₂. -Ví dụ: Vi khuẩn lam (Cyanobacteria), vi khuẩn lưu huỳnh màu tía. -Đặc điểm: Sử dụng ánh sáng để tổng hợp chất hữu cơ từ CO₂; có thể tham gia quang hợp. 2. Quang dị dưỡng (Photoorganoheterotroph): -Nguồn năng lượng: Ánh sáng. -Nguồn carbon: Chất hữu cơ. -Ví dụ: Vi khuẩn không chứa lưu huỳnh màu tía, vi khuẩn màu lục. -Đặc điểm: Dùng ánh sáng làm năng lượng nhưng cần chất hữu cơ từ môi trường để cung cấp carbon.
3. Hóa tự dưỡng.(Chemolithoautotroph): -Nguồn năng lượng: Hợp chất vô cơ (NH₃, H₂S, Fe²⁺,...). -Nguồn carbon: CO₂. -Ví dụ: Nitrosomonas, Nitrobacter, Thiobacillus. -Đặc điểm: Oxy hóa chất vô cơ để tạo năng lượng, dùng CO₂ để tổng hợp chất hữu cơ. 4. Hóa dị dưỡng.(Chemoorganoheterotroph): -Nguồn năng lượng: Hợp chất hữu cơ. -Nguồn carbon: Chất hữu cơ. -Ví dụ: Escherichia coli, Pseudomonas, Bacillus. -Đặc điểm: Sử dụng hợp chất hữu cơ vừa làm nguồn năng lượng vừa làm nguồn carbon. Đây là nhóm phổ biến nhất trong vi sinh vật gây bệnh và vi sinh vật sống hoại sinh.
*Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển và phân bố ngành giao thông vận tải: - Vị trí địa lí: + Đây là nhân tố quy định sự có mặt của loại hình giao thông vận tải. + Vị trí địa lí ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố ngành giao thông vận tải. - Nhân tố tự nhiên: + Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng tới sự phân bố và hoạt động của các loại hình giao thông vận tải. + Địa hình quy định sự có mặt và vai trò của loại hình giao thông vận tải, công tác thiết kế và khai thác công trình giao thông. + Khí hậu và thời tiết (mưa, bão, sương mù, băng tuyết,…) ảnh hưởng sâu sắc tới hoạt động của các phương tiện giao thông vận tải. - Nhân tố kinh tế - xã hội: + Sự phát triển và phân bố các ngành kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển, phân bố và hoạt động của giao thông vận tải. + Phân bố dân cư (các thành phố lớn, đô thị) ảnh hưởng sâu sắc tới vận tải hành khách. + Khoa học - công nghệ ảnh hưởng đến tốc độ vận chuyển, hiện đại hoá và nâng cao chất lượng các phương tiện vận tải, quá trình điều hành và quản lí giao thông vận tải. + Vốn đầu tư và chính sách tác động tới sự phát triển mạng lưới và mức độ hiện đại hoá hệ thống hạ tầng giao thông vận tải. - Sự phát triển và phân bố các ngành kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển, phân bố và hoạt động của giao thông vận tải. Vì các ngành kinh tế khác là khách hàng của ngành giao thông vận tải nên sự phát triển và phân bố các cơ sở kinh tế sẽ ảnh hưởng đến việc lựa chọn loại hình, mật độ vận tải, hướng và cường độ vận chuyển. Đồng thời, các ngành kinh tế khác trang bị cơ sở vật chất - kĩ thuật cho ngành giao thông vận tải.
*Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển và phân bố ngành giao thông vận tải: - Vị trí địa lí: + Đây là nhân tố quy định sự có mặt của loại hình giao thông vận tải. + Vị trí địa lí ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố ngành giao thông vận tải. - Nhân tố tự nhiên: + Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng tới sự phân bố và hoạt động của các loại hình giao thông vận tải. + Địa hình quy định sự có mặt và vai trò của loại hình giao thông vận tải, công tác thiết kế và khai thác công trình giao thông. + Khí hậu và thời tiết (mưa, bão, sương mù, băng tuyết,…) ảnh hưởng sâu sắc tới hoạt động của các phương tiện giao thông vận tải. - Nhân tố kinh tế - xã hội: + Sự phát triển và phân bố các ngành kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển, phân bố và hoạt động của giao thông vận tải. + Phân bố dân cư (các thành phố lớn, đô thị) ảnh hưởng sâu sắc tới vận tải hành khách. + Khoa học - công nghệ ảnh hưởng đến tốc độ vận chuyển, hiện đại hoá và nâng cao chất lượng các phương tiện vận tải, quá trình điều hành và quản lí giao thông vận tải. + Vốn đầu tư và chính sách tác động tới sự phát triển mạng lưới và mức độ hiện đại hoá hệ thống hạ tầng giao thông vận tải. - Sự phát triển và phân bố các ngành kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển, phân bố và hoạt động của giao thông vận tải. Vì các ngành kinh tế khác là khách hàng của ngành giao thông vận tải nên sự phát triển và phân bố các cơ sở kinh tế sẽ ảnh hưởng đến việc lựa chọn loại hình, mật độ vận tải, hướng và cường độ vận chuyển. Đồng thời, các ngành kinh tế khác trang bị cơ sở vật chất - kĩ thuật cho ngành giao thông vận tải.