Đoàn Tuệ Minh
Giới thiệu về bản thân
câu 1
Tầm vóc và ý nghĩa: "Li khách" không chỉ là một cá nhân mà còn đại diện cho khát vọng lên đường, vượt thoát khỏi thực tại chật hẹp của thế hệ trí thức yêu nước lúc bấy giờ. Hình tượng này vừa mang hơi thở cổ điển của những cuộc chia ly trong thơ xưa, vừa mang nét hiện đại trong tư duy và cảm xúc của phong trào Thơ mới.
Vẻ ngoài mạnh mẽ, dứt khoát: Hình tượng "li khách" hiện lên với tư thế hiên ngang, chủ động "vung tay đưa tiễn", không bị ràng buộc bởi những tình cảm uỷ mị thông thường. Nhân vật này mang dáng dấp của những tráng sĩ thời xưa với chí lớn, quyết tâm dứt áo ra đi vì lí tưởng, bất chấp sự ngăn cách của không gian ("không có sông", "không có sóng") và thời gian ("chiều không thắm").
Thế giới nội tâm đầy giằng xé: Đằng sau vẻ ngoài lạnh lùng là một tâm hồn nhạy cảm và đầy ưu tư. Sự ra đi không hề dễ dàng khi người đi vẫn cảm nhận rõ "nỗi niềm" của người ở lại (mẹ già, chị, em). Những hình ảnh "mắt xanh xao", "lòng rười rượi" cho thấy sự đối lập gay gắt giữa lí trí mạnh mẽ và tình cảm sâu nặng, tạo nên vẻ đẹp bi tráng đặc trưng
câu 2
câu 1 nhân vật trữ tình trong thơ là "ta"- người đưa tiễn
câu 2 cuộc chia tay kh xác định kh gian thời gian là trong chiều hôm nay
câu 3 "đầy" (tính từ): ở trạng thái không còn chứa thêm được nữa, có nhiều và khắp cả;
"hoàng hôn" chỉ thời điểm mặt trời lặn, ánh sáng yếu ớt và mờ dần
Tác dụng: góp phần thể hiện một cách kín đáo tâm trạng của người li khách; thể hiện nỗi buồn man mác vấn vương của li khách một cách đầy lãng mạn; cho ta thấy dường như con người đang cố gắng dùng lí trí kìm nén những xúc cảm trong lòng mình; gợi ra khung cảnh những cuộc chia li thời cổ, góp phần thổi vào câu thơ hơi thở Đường thi
câu 4"Tiếng sóng" trong lòng: tượng trưng cho tâm trạng xáo động, bâng khuâng, lưu luyến và vấn vương cùng nỗi buồn man mác khó tả tựa như những lớp sóng đang trào dâng vô hồi vô hạn trong lòng người tiễn đưa
câu 5
câu 2
Trong hành trình chinh phục những đỉnh cao của cuộc đời, khó khăn là điều không thể tránh khỏi. Có người chọn cách lùi bước, nhưng cũng có người chọn cách đương đầu. Sự khác biệt đó nằm ở hai chữ: Nghị lực. Ý chí, nghị lực không chỉ là một phẩm chất, mà còn là "chìa khóa vàng" mở ra cánh cửa thành công cho mỗi con người. Nghị lực sống chính là sức mạnh tinh thần giúp con người kiên trì, vững vàng trước những sóng gió, nghịch cảnh. Đó là khi một học sinh nghèo vẫn miệt mài đèn sách để chạm đến ước mơ đại học, hay là khi một người gặp biến cố lớn về sức khỏe vẫn lạc quan để bắt đầu lại từ đầu. Người có nghị lực luôn nhìn thấy cơ hội trong khó khăn, thay vì chỉ thấy khó khăn trong mỗi cơ hội. Tại sao chúng ta lại cần đến nghị lực? Thực tế, cuộc sống vốn dĩ là một thao trường khắc nghiệt. Nếu không có bản lĩnh, chúng ta sẽ dễ dàng bị gục ngã trước những thất bại đầu đời. Nghị lực giúp con người rèn luyện sự bền bỉ, giúp ta hiểu rằng "thất bại là mẹ thành công". Hãy nhìn vào tấm gương của Nick Vujicic – người đàn ông không tay không chân nhưng đã truyền cảm hứng cho hàng triệu người trên thế giới bằng nghị lực phi thường của mình. Hay ngay tại Việt Nam, thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký đã dùng đôi chân để viết nên số phận, chứng minh rằng không có rào cản nào có thể ngăn cản bước chân của người có chí hướng. Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay, vẫn còn một bộ phận các bạn trẻ sống thiếu lý tưởng, dễ dàng nản lòng trước những thử thách nhỏ. Có những người chọn lối sống "an phận thủ thường", sợ hãi thất bại đến mức không dám bắt đầu. Đó là một lối sống thụ động, khiến con người trở nên yếu ớt và dễ bị đào thải bởi nhịp sống hối hả. Tóm lại, ý chí và nghị lực không phải tự nhiên mà có, nó là kết quả của một quá trình rèn luyện gian khổ. Mỗi chúng ta cần xác định cho mình một mục tiêu sống đúng đắn và quyết tâm theo đuổi nó đến cùng. Đừng sợ vấp ngã, vì "vinh quang không phải là không bao giờ ngã, mà là đứng dậy sau mỗi lần ngã".
câu 1
"Những giọt lệ" của Hàn Mặc Tử là một tiếng kêu thương đau đớn, kết tinh từ nỗi đau thể xác và bi kịch tâm hồn của một thi sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh. Bài thơ không chỉ đơn thuần là tiếng khóc mà còn là sự thăng hoa của nỗi đau thành những hình tượng nghệ thuật đầy ám ảnh. Những giọt lệ ở đây không chỉ là nước mắt sinh học mà là sự rỏ máu của trái tim, là những "viên đá quý" lấp lánh trong đêm tối cô đơn của một kiếp người chịu nhiều giông bão. Với bút pháp siêu thực đặc trưng, Hàn Mặc Tử đã biến cái hữu hình thành cái vô hình, tạo nên một không gian nghệ thuật huyền ảo, nơi nỗi buồn lan tỏa, thấm đẫm vào cả trăng sao và vũ trụ bao la. Mỗi vần thơ đều toát lên sự cô độc tột cùng và khát khao được thấu cảm trước ngưỡng cửa của sự chia lìa. Qua đó, tác phẩm không chỉ phơi bày một tâm hồn tan nát mà còn khẳng định sức sống mãnh liệt của người nghệ sĩ: dù trong tuyệt vọng vẫn chắt chiu những gì tinh túy nhất để dâng hiến cho đời. Bài thơ mãi là một nốt lặng đầy ám ảnh trong vườn thơ "loạn" của Hàn Mặc Tử.
câu1 biểu cảm miêu tả
câu 2 nỗi buồn sự đau khổ
câu 3 Hình ảnh hồn tượng trưng cho cái tôi cá nhân, cho sự cô đơn, tuyệt vọng của chính thi nhân gắn liền với mặc cảm chia lìa. Khát khao yêu và được yêu, nhưng tình yêu của Hàn Mặc Tử vẫn tan vỡ, người kia vẫn ra đi, khiến cho thi sĩ ngậm ngùi, đau đớn, thất vọng.
câu 4 Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?/ Sao bông phượng nở trong màu huyết,/ Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?
– Tác dụng: Thể hiện sự bơ vơ, lạc lõng của thi nhân giữa trần thế bao la, rộng lớn này. Thể hiện sự nhạy cảm của thi nhân trước thiên nhiên, cuộc đời: Dường như thiên nhiên, cuộc đời cũng thương cho số kiếp đáng thương, hoàn cảnh lạc lõng của thi nhân mà xúc động, nghẹn ngào, khóc thương cho cuộc đời chàng Hàn Mặc Tử.
câu 5 Trước hết, bài thơ đi từ nỗi buồn vì không thể hồi đáp lại hết tình thương yêu, quý mến của mọi người dành cho thi nhân. Nhà thơ rất muốn đền đáp nhưng bệnh tật khiến chàng không thể đền đáp nổi những điều trân quý ấy. Tiếp đó là nỗi đau đớn, bất lực vì tình yêu không trọn vẹn. Và cuối cùng là nỗi khổ sở, bơ vơ, lạc lõng giữa cuộc đời mênh mông. Như vậy, bài thơ là sự vận động từ sự phiền muộn, khát khao yêu và được yêu sang nỗi khổ sở, bơ vơ, lạc lõng giữa trần thế bao la của thi nhân