Dương Quang Huy
Giới thiệu về bản thân
Cấu hình e (Z=7): 1s2,2s2,2p3
=> Nito có 2 lớp electron, có 5e lớp ngoài cùng
=> Thuộc chu kì 2, nhóm VA, ô thứ 7
Phú dưỡng là hệ quả sau khi ao hồ, sông ngòi tiếp nhận quá nhiều các nguồn thải chứa các chất dinh dưỡng (Nitơ, Photpho) vượt quá khả năng tự điều hòa của ao, hồ. Các nguồn thải xả thải cung cấp đầu vào cho quá trình này tăng lên từng ngày
Nguyên nhân
nông dân sử dụng phân bón trong trồng trọt: Phân bón dường như là một phần không thể thiếu trong nông nghiệp, thúc đẩy quá trình phát triển của cây trồng. Cũng vì vậy, nhiều người lầm tưởng, bón càng nhiều phân càng tốt. Thực chất, cây trồng chỉ hấp thụ một lượng nhất định. Khi lượng này vượt quá khả năng đồng hóa của đất, chúng sẽ theo dòng chảy mặt ra ao, hồ
sinh hoạt hàng ngày xả nước thải trực tiếp ra môi trường: chứa lượng chất hữu cơ rất lớn. Chúng bao gồm: nước thải nhà vệ sinh, rửa bát, làm sạch thực phẩm, chứa nhiều cặn thức ăn, dầu mỡ
nước thải chăn nuôi: Đây là nguồn thải giàu chất hữu cơ nhất, thường đến từ các cơ sở chăn nuôi gia đình. Phân hữu cơ chứa lượng lớn nitơ và photpho đẩy quá trình phú dưỡng diễn ra theo tiến trình nhanh nhất
tác hại:
Hiện tượng này gây ra nhiều hậu quả cho môi trường tự nhiên, cân bằng sinh thái và chính con người:
gây mùi hôi thối
Nước bị phú dưỡng thường bốc mùi hôi thối, dòng chảy thấp, lưu lâu hơn. Đó là do mùi hôi của nước, cùng với mùi của cá, và các sinh vật chết
mất mỹ quan
Nước chuyển màu xanh của tảo, dày đặc trên mặt nước gây mất mỹ quan môi trường
ảnh hưởng tới thuỷ sinh
Hiện tượng phú dưỡng là nguyên nhân hàng đầu làm suy giảm hệ sinh thái ven bờ và dưới nước. Đây là hậu quả nghiêm trọng và khó khắc phục nhất. Ban đầu, khi các chất dinh dưỡng dược bổ sung, các loài sinh vật như thực vật thủy sinh, cá, tảo sẽ cùng nhau phát triển mạnh
1.N2 + O2 --> 2NO
2.2NO + O2 --> 2NO2
3.4NO2 + O2 + 2H2O -->4HNO3
4.NH3 + HNO3 -->NH4NO3
Chu kì \(T = 4 s \Rightarrow \omega = \frac{2 \pi}{T} = \frac{2 \pi}{4} = \frac{\pi}{2}\)
Trong \(t = 6 s = T + \frac{T}{2}\)
Mà quãng đường đi được sau 6s là 48cm nên:
\(S = 4 A + 2 A = 6 A = 48 \Rightarrow A = 8 c m\)
Khi \(t = 0\) vật qua VTCB và hướng về vị trí biên âm nên \(\varphi_{0} = \frac{\pi}{2}\).
PT dao động:
\(x = A c o s \left(\right. \omega t + \varphi_{0} \left.\right) = 8 c o s \left(\right. \frac{\pi}{2} t + \frac{\pi}{2} \left.\right) \left(\right. c m \left.\right)\)
Bài 2:
Tính sự thay đổi nồng độ của tert-butyl chloride
Δ[C₄H₉Cl] = [C₄H₉Cl]ban đầu - [C₄H₉Cl]sau = 0,22 M - 0,10 M = 0,12 M
Tính tốc độ trung bình
Tốc độ trung bình = -Δ[C₄H₉Cl] / Δt = -0,12 M / 4 s = -0,03 M/s
Đáp án: Tốc độ trung bình của phản ứng theo tert-butyl chloride là 0,03 M/s.
Bài 2: Tính sự thay đổi nồng độ của tert-butyl chloride Δ[C₄H₉Cl] = [C₄H₉Cl]ban đầu - [C₄H₉Cl]sau = 0,22 M - 0,10 M = 0,12 M Tính tốc độ trung bình Tốc độ trung bình = -Δ[C₄H₉Cl] / Δt = -0,12 M / 4 s = -0,03 M/s Đáp án: Tốc độ trung bình của phản ứng theo tert-butyl chloride là 0,03 M/s.
c3a) Cân bằng phương trình phản ứng
5CaC2O4 + 2KMnO4 + 8H2SO4 → 5CaSO4 + K2SO4 + 2MnSO4 + 8H2O + 10CO2
b) Số mol KMnO4 cần dùng để phản ứng hết với calcium oxalate kết tủa từ 1 mL máu là:
2,05.10-3.4,88.10-4 = 10-6 mol
Số mol CaSO4 = 5/2. Số mol KMnO4 = 2,5x10-6 mol
Khối lượng ion calcium (mg) trong 100 mL máu là: 2,5x10-6x40x103x 100 = 10mg/100 mL.
c2a) Cân bằng phương trình phản ứng 5CaC2O4 + 2KMnO4 + 8H2SO4 → 5CaSO4 + K2SO4 + 2MnSO4 + 8H2O + 10CO2 b) Số mol KMnO4 cần dùng để phản ứng hết với calcium oxalate kết tủa từ 1 mL máu là: 2,05.10-3.4,88.10-4 = 10-6 mol Số mol CaSO4 = 5/2. Số mol KMnO4 = 2,5x10-6 mol Khối lượng ion calcium (mg) trong 100 mL máu là: 2,5x10-6x40x103x 100 = 10mg/100 mL.
c1a) Cân bằng phương trình phản ứng 5CaC2O4 + 2KMnO4 + 8H2SO4 → 5CaSO4 + K2SO4 + 2MnSO4 + 8H2O + 10CO2 b) Số mol KMnO4 cần dùng để phản ứng hết với calcium oxalate kết tủa từ 1 mL máu là: 2,05.10-3.4,88.10-4 = 10-6 mol Số mol CaSO4 = 5/2. Số mol KMnO4 = 2,5x10-6 mol Khối lượng ion calcium (mg) trong 100 mL máu là: 2,5x10-6x40x103x 100 = 10mg/100 mL.
Khoai lang là cây họ cà, thuộc nhóm cây sử dụng nhiều kali và ít cần nitơ. Đậu nành, thuộc họ đậu, lại là cây họ đậu có khả năng cố định đạm (nitrogen) từ không khí nhờ vi khuẩn cộng sinh trong nốt sần rễ. Việc luân canh khoai lang với đậu nành giúp bổ sung và duy trì lượng nitơ trong đất vì đậu nành để lại một lượng nitơ đáng kể trong đất sau khi thu hoạch, bù lại lượng nitơ mà khoai lang sử dụng ít.