NGÔ THỊ QUỲNH ANH
Giới thiệu về bản thân
Hiện tượng Phú dưỡng là hiện tượng dư thừa quá nhiều các nguyên tố dinh dưỡng trong các nguồn nước làm cho các sinh vật trong nước như vi khuẩn tảo rong rêu phát triển nhanh
Nguyên nhân do nguồn nước thải nông nghiệp công nghiệp sinh hoạt chưa qua xử lý được thải vào ao hồ
Tác hại gây ngăn cản ánh sáng mặt trời làm giảm sự quang hợp của thực vật thủy sinh làm thiếu nguồn Oxygen trầm trọng cho tôm cá gây mất cân bằng hệ sinh thái gây ô nhiễm môi trường nước không khí tạo bùn lắng xuống ao hồ
Fe + 2HCl → FeCl₂ + H₂
Số mol Fe = khối lượng Fe / khối lượng mol của Fe
Số mol Fe = 8,96 gam / 56 gam/mol = 0,16 mol
Theo phương trình, 1 mol Fe tạo ra 1 mol H₂.
Vậy, 0,16 mol Fe tạo ra 0,16 mol H₂. Ở điều kiện chuẩn (0°C và 1 atm), 1 mol khí chiếm thể tích 24,79 lít.
Thể tích H₂ = số mol H₂ × 24,79 lít/mol
Thể tích H₂ = 0,16 mol × 24,79 lít/mol = 3,9664lít
Các yếu tố chính ảnh hưởng đến tốc độ phản ứng hóa học là nồng độ, nhiệt độ, áp suất, diện tích bề mặt, và chất xúc tác.
Tăng nồng độ
làm tăng số phân tử trong một đơn vị thể tích, dẫn đến tần số va chạm giữa các chất phản ứng tăng, do đó tăng tốc độ phản ứng.
Tăng nhiệt độ
làm các phân tử chuyển động nhanh hơn và có nhiều năng lượng hơn, tăng cả tần số va chạm và tần số va chạm hiệu quả, dẫn đến tăng tốc độ phản ứng.
Tăng áp suất
(ở phản ứng khí) làm các phân tử khí lại gần nhau hơn, tăng mật độ và tần số va chạm, từ đó tăng tốc độ phản ứng.
Tăng diện tích bề mặt
(ở chất rắn) tạo ra nhiều điểm tiếp xúc hơn cho các chất phản ứng, làm tăng tần số va chạm giữa chúng và tăng tốc độ phản ứng.
Sử dụng chất xúc tác
giúp giảm năng lượng hoạt hóa của phản ứng, tạo ra một con đường phản ứng khác dễ xảy ra hơn, từ đó tăng tốc độ phản ứng mà không bị tiêu hao.
Các yếu tố chính ảnh hưởng đến tốc độ phản ứng hóa học là nồng độ, nhiệt độ, áp suất, diện tích bề mặt, và chất xúc tác.
Tăng nồng độ
làm tăng số phân tử trong một đơn vị thể tích, dẫn đến tần số va chạm giữa các chất phản ứng tăng, do đó tăng tốc độ phản ứng.
Tăng nhiệt độ
làm các phân tử chuyển động nhanh hơn và có nhiều năng lượng hơn, tăng cả tần số va chạm và tần số va chạm hiệu quả, dẫn đến tăng tốc độ phản ứng.
Tăng áp suất
(ở phản ứng khí) làm các phân tử khí lại gần nhau hơn, tăng mật độ và tần số va chạm, từ đó tăng tốc độ phản ứng.
Tăng diện tích bề mặt
(ở chất rắn) tạo ra nhiều điểm tiếp xúc hơn cho các chất phản ứng, làm tăng tần số va chạm giữa chúng và tăng tốc độ phản ứng.
Sử dụng chất xúc tác
giúp giảm năng lượng hoạt hóa của phản ứng, tạo ra một con đường phản ứng khác dễ xảy ra hơn, từ đó tăng tốc độ phản ứng mà không bị tiêu hao.