LƯƠNG GIA HUY
Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản: biểu cảm, kết hợp với nghị luận và miêu tả.
Câu 2.
Hai lối sống mà con người đã từng đôi lần trải qua được tác giả nêu:
- Lối sống khước từ vận động, tìm sự an toàn trong bất động, bỏ quên khát vọng, bải hoải trong tháng ngày chật hẹp (như dòng sông lịm trong đầm lầy).
- Lối sống sống có khát vọng, dấn thân, trải nghiệm, hướng đến biển rộng (như dòng sông chảy về biển cả).
Câu 3.
Biện pháp tu từ trong đoạn: “Sông như đời người. Và sông phải chảy. Như tuổi trẻ phải hướng ra biển rộng.” là so sánh.
- Tác dụng: Gợi ra sự tương đồng giữa dòng sông và đời người, giữa dòng chảy của sông và hành trình tuổi trẻ. Qua đó nhấn mạnh: tuổi trẻ không thể dừng lại, phải vươn ra, phải trải nghiệm, phải sống có lý tưởng và khát vọng lớn lao.
Câu 4.
“Tiếng gọi chảy đi sông ơi” là hình ảnh ẩn dụ, thể hiện:
- Tiếng gọi từ bên trong mỗi con người, thôi thúc bản thân không dừng lại trong sự trì trệ mà phải vươn tới, vận động, trải nghiệm.
- Đó cũng là tiếng gọi của cuộc sống, của khát vọng sống có ý nghĩa và cống hiến.
Câu 5.
Bài học rút ra:
- Con người, nhất là tuổi trẻ, không được sống thụ động, trì trệ, khước từ vận động và trải nghiệm.
- Cần có khát vọng, dấn thân, hướng tới những điều lớn lao, sống một cuộc đời có ý nghĩa.
Vì sao?
- Bởi chỉ khi vận động và không ngừng phấn đấu, con người mới trưởng thành, tìm thấy giá trị của bản thân và góp phần làm cho cuộc sống thêm tươi đẹp.
Câu 1. (2.0 điểm – đoạn văn 200 chữ)
Mark Twain từng nói: “Hai mươi năm sau bạn sẽ hối hận vì những gì bạn đã không làm, hơn là những gì bạn đã làm. Vậy nên hãy tháo dây, nhổ neo và ra khỏi bến đỗ an toàn.” Câu nói gửi gắm một thông điệp sâu sắc: con người không nên sống mãi trong vùng an toàn, mà cần dám thử thách, trải nghiệm và hành động. Trong cuộc sống, nếu ta chỉ sợ hãi rủi ro, chỉ an phận, ta sẽ bỏ lỡ những cơ hội quý giá. Ngược lại, dám sống hết mình, dám hành động có thể mang đến khó khăn, thất bại, nhưng ít nhất ta không hối tiếc vì đã không thử. Thực tế, nhiều người trẻ từng nuối tiếc vì không bày tỏ tình cảm, không nắm bắt cơ hội học tập, làm việc, để rồi về sau chỉ còn sự tiếc nuối. Riêng tôi, câu nói ấy nhắc nhở rằng tuổi trẻ phải sống chủ động, dám ước mơ, dám thử sức, dù kết quả thế nào cũng là bài học đáng giá. Hạnh phúc thật sự không nằm ở sự an toàn khép kín, mà ở hành trình khám phá và trải nghiệm. Vậy nên, mỗi chúng ta hãy “ra khỏi bến đỗ an toàn” để sống một tuổi trẻ đáng nhớ, không phải hối hận mai sau.
Câu 2. (4.0 điểm – bài văn nghị luận 400 chữ)
Trong truyện ngắn Trở về của Thạch Lam, nhân vật người mẹ hiện lên với hình ảnh bình dị nhưng giàu sức gợi cảm. Bà là hiện thân của tình mẫu tử thiêng liêng, của sự tần tảo và hi sinh trong cuộc đời lam lũ nơi thôn quê.
Trước hết, bà mẹ hiện lên với vẻ ngoài già nua, khắc khổ: bước chân chậm chạp, bộ áo cũ kĩ, mái nhà xơ xác như chính cuộc đời bà. Đằng sau hình ảnh ấy là một cuộc đời cơ cực, gắn bó với lao động nặng nhọc, nuôi con khôn lớn. Thế nhưng, khi gặp lại con, bà vẫn không giấu nổi niềm xúc động: rưng rưng nước mắt, giọng nói nghẹn ngào, những câu hỏi ân cần về sức khỏe và công việc của Tâm. Đó là biểu hiện của tình yêu thương vô bờ bến, dẫu con có vô tâm, hờ hững.
Bà mẹ còn là hiện thân của sự hi sinh lặng lẽ. Sáu năm trời, bà sống trong cô đơn, nhớ thương, mong ngóng con, nhưng chưa một lần oán trách. Dù con thờ ơ, bà vẫn dịu dàng, vẫn chăm lo từng lời hỏi han. Hình ảnh bà run run nhận số tiền Tâm đưa, rơm rớm nước mắt khiến người đọc càng cảm nhận rõ nỗi tủi thân và tình thương bao la của người mẹ. Với bà, niềm hạnh phúc không phải tiền bạc, mà là sự quan tâm, hiện diện của con.
Qua nhân vật người mẹ, Thạch Lam đã ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng, đồng thời bày tỏ niềm xót xa cho những bà mẹ ở thôn quê – cả đời hi sinh mà không được đáp đền xứng đáng. Nhân vật cũng là lời nhắc nhở mỗi chúng ta: hãy biết trân trọng, yêu thương, quan tâm cha mẹ khi còn có thể, đừng để đến lúc muộn màng mới hối tiếc.
Có thể nói, hình tượng người mẹ trong Trở về vừa bình dị, vừa xúc động. Bằng lối viết trữ tình, tinh tế, Thạch Lam đã khắc họa thành công hình ảnh người mẹ giàu đức hi sinh, góp phần làm nổi bật giá trị nhân đạo của tác phẩm.
Thiếu dấu hai chấm : sau câu lệnh if.
while True:
try:
a = float(input("Nhập số thực dương a: "))
if a > 0:
break
else:
print("Số vừa nhập chưa phải số thực dương. Hãy nhập lại.")
except ValueError:
print("Giá trị nhập không hợp lệ. Hãy nhập lại.")
binh_phuong = a ** 2
print("Bình phương của a là: {:.2f}".format(binh_phuong))
def UCLN(a, b):
while b != 0:
a, b = b, a % b
return a
a = int(input("Nhập số tự nhiên a: "))
b = int(input("Nhập số tự nhiên b: "))
print("Ước chung lớn nhất là:", UCLN(a, b))
def la_nam_nhuan(nam):
return (nam % 4 == 0 and nam % 100 != 0) or (nam % 400 == 0)
ngay = int(input("Nhập ngày: "))
thang = int(input("Nhập tháng: "))
nam = int(input("Nhập năm: "))
so_ngay_trong_thang = [31, 28, 31, 30, 31, 30, 31, 31, 30, 31, 30, 31]
if la_nam_nhuan(nam):
so_ngay_trong_thang[1] = 29
so_ngay = sum(so_ngay_trong_thang[:thang - 1]) + ngay
print("Số ngày từ đầu năm đến ngày đã nhập là:", so_ngay)
for ga in range(37):
cho = 36 - ga
if ga * 2 + cho * 4 == 100:
print(f"Số gà: {ga}, Số chó: {cho}")
break
k = int(input("Nhập số tự nhiên k (1 < k < 10): "))
for i in range(1, 6):
print(f"{k} x {i} = {k * i}\t\t{k} x {i+5} = {k * (i+5)}")
n = int(input("Nhập số tự nhiên n: "))
S = 0
for i in range(1, n + 1):
S += i ** 2
T = n * (n + 1) * (2 * n + 1) // 6
print("Tổng S =", S)
print("Tích T =", T)
print("S và T bằng nhau?" , S == T)
n = int(input("Nhập số tự nhiên n (1 < n <= 20): "))
S = 0
for i in range(0, n + 1):
S += 1 / (2 ** i)
print("Tổng S =", S)