HÁN BẢO VI

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của HÁN BẢO VI
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

a,OH - +H+->H2O

b, Ba2+ +SO42- -> BaSO4

c,Co32- + H2O ->CO2 +H2O

d,Cu+2Fe3+ +Cu2+


-Hiện tượng phú dưỡng là sự gia tăng đột ngột của các chất dinh dưỡng như nito và photpho trong các thuỷ vực như ao hoof sông gây ra sự phats triển bùng nổ của tảo và thực vật thuỷ sinh

-Nguyên nhân:

+ nước thải sinh hoạt, công nghiệp và nông nghiệp chưa được xử lý đổ ra môi trường

+ lạm dụng phân bón

+ sự phân huỷ của chất hữu cơ t xác động vâtj

- tác hại

+ gây thiếu oxi trong nước làm cheets thủy sinh

+ tảo phát triển quá mức tạo thành lớp màng trên mặt nước ngăn cản ánh sáng mặt trời

+ gây ô nhiễm nguồn nước

(1)N2+O2->oNO

(2)2NO+O2->2NO2

(3)4NO2+O2+H2O->4HNO3

(4)HNO3+NH3->NH4NO3

Phương trình phản ứng
Fe+2HCl→FeCl2+H2Fe+2HCl→FeCl2+H2

Tính số mol của iron
Trong đó:

  • m𝑚là khối lượng của iron,  m=8,96gam𝑚=8,96gam.
  • M𝑀là khối lượng mol của iron,  M=56g/mol𝑀=56g/mol.
Số mol của iron là  nFe=8,9656=0,16mol𝑛Fe=8,9656=0,16mol. Tính số mol của hydrogen Từ phương trình phản ứng, tỉ lệ mol giữa  FeFevà  H2H2là  1∶11∶1.
Do đó, số mol của hydrogen sinh ra bằng số mol của iron đã phản ứng:  nH2=nFe=0,16mol𝑛H2=𝑛Fe=0,16mol.
Tính thể tích của hydrogen
Trong đó:
  • nnlà số mol của hydrogen,  n=0,16mol n=0,16mol.
  • 22,4L/mol22,4L/mol là thể tích mol của khí ở điều kiện chuẩn.
  • Thể tích của hydrogen là  VH2=0,16×22,4=3,584lít

    VH2=0,16×22,4=3,584lít

1. Nồng độ chất phản ứng

- Tăng nồng độ: Làm tăng tốc độ phản ứng.

- Giair thích Nồng độ chất phản ứng cao hơn dẫn đến nhiều phân tử chất phản ứng hơn trong cùng một thể tích. Điều này làm tăng tần số va chạm giữa các phân tử, từ đó tăng số va chạm hiệu quả và tốc độ phản ứng cũng tăng. 

2. Nhiệt độ

Tăng nhiệt độ Làm tăng tốc độ phản ứng. 

Giải thích: Nhiệt độ cao làm tăng động năng của các phân tử, khiến chúng chuyển động nhanh hơn và va chạm với nhau nhiều hơn. Quan trọng hơn, nhiệt độ tăng còn làm tăng tần số va chạm có hiệu quả (va chạm đủ năng lượng để phản ứng), là yếu tố chính làm tăng tốc độ phản ứng. 

3. Áp suất (đối với chất khí)

Tăng áp suất:Làm tăng tốc độ phản ứng đối với các phản ứngcó chất khí. Giải thích:Tăng áp suất đối với chất khí có nghĩa là thu hẹp khoảng cách giữa các phân tử khí, làm tăng nồng độ của chúng. Nồng độ chất khí tăng dẫn đến tần số va chạm giữa các phân tử khí tăng, từ đó làm tăng tốc độ phản ứng. 

4. Diện tích bề mặt tiếp xúc (đối với chất rắn) 

Tăng diện tích bề mặt:Làm tăng tốc độ phản ứng đối với các phản ứng có chất rắn tham gia.

 Giải thích:Chất rắn có diện tích bề mặt lớn hơn (ví dụ: nghiền nhỏ chất rắn thành bột) sẽ có nhiều phân tử tiếp xúc với các chất phản ứng khác. Sự gia tăng số lượng các phân tử có thể tiếp xúc này làm tăng tần số va chạm và tốc độ phản ứng. 

5. Chất xúc tác

Sử dụng chất xúc tác: Làm tăng tốc độ phản ứng. 

Giải thích: Chất xúc tác là chất làm tăng tốc độ phản ứng mà bản thân nó không bị tiêu hao về khối lượng sau phản ứng. Nó làm như vậy bằng cách cung cấp một cơ chế phản ứng khác, một con đường phản ứng có năng lượng hoạt hóa thấp hơn, giúp các phân tử dễ dàng hơn để vượt qua "hàng rào năng lượng" và chuyển hóa thành sản phẩm. 

1. Nồng độ chất phản ứng

- Tăng nồng độ: Làm tăng tốc độ phản ứng.

- Giair thích Nồng độ chất phản ứng cao hơn dẫn đến nhiều phân tử chất phản ứng hơn trong cùng một thể tích. Điều này làm tăng tần số va chạm giữa các phân tử, từ đó tăng số va chạm hiệu quả và tốc độ phản ứng cũng tăng. 

2. Nhiệt độ

Tăng nhiệt độ Làm tăng tốc độ phản ứng. 

Giải thích: Nhiệt độ cao làm tăng động năng của các phân tử, khiến chúng chuyển động nhanh hơn và va chạm với nhau nhiều hơn. Quan trọng hơn, nhiệt độ tăng còn làm tăng tần số va chạm có hiệu quả (va chạm đủ năng lượng để phản ứng), là yếu tố chính làm tăng tốc độ phản ứng. 

3. Áp suất (đối với chất khí)

Tăng áp suất:Làm tăng tốc độ phản ứng đối với các phản ứngcó chất khí. Giải thích:Tăng áp suất đối với chất khí có nghĩa là thu hẹp khoảng cách giữa các phân tử khí, làm tăng nồng độ của chúng. Nồng độ chất khí tăng dẫn đến tần số va chạm giữa các phân tử khí tăng, từ đó làm tăng tốc độ phản ứng. 

4. Diện tích bề mặt tiếp xúc (đối với chất rắn) 

Tăng diện tích bề mặt:Làm tăng tốc độ phản ứng đối với các phản ứng có chất rắn tham gia.

 Giải thích:Chất rắn có diện tích bề mặt lớn hơn (ví dụ: nghiền nhỏ chất rắn thành bột) sẽ có nhiều phân tử tiếp xúc với các chất phản ứng khác. Sự gia tăng số lượng các phân tử có thể tiếp xúc này làm tăng tần số va chạm và tốc độ phản ứng. 

5. Chất xúc tác

Sử dụng chất xúc tác: Làm tăng tốc độ phản ứng. 

Giải thích: Chất xúc tác là chất làm tăng tốc độ phản ứng mà bản thân nó không bị tiêu hao về khối lượng sau phản ứng. Nó làm như vậy bằng cách cung cấp một cơ chế phản ứng khác, một con đường phản ứng có năng lượng hoạt hóa thấp hơn, giúp các phân tử dễ dàng hơn để vượt qua "hàng rào năng lượng" và chuyển hóa thành sản phẩm. 

Câu 1

Mark Twain đã từng nói: “Hai mươi năm sau bạn sẽ hối hận vì những gì bạn đã không làm, hơn là những gì bạn đã làm.” Câu nói ấy như một lời thức tỉnh, nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của sự dũng cảm dấn thân và sống trọn vẹn với từng cơ hội trong cuộc đời. Trong hành trình sống, có những cơ hội chỉ đến một lần. Nếu ta vì sợ hãi, ngại ngùng mà bỏ lỡ, về sau dù có hối tiếc cũng không thể quay lại. Chúng ta dễ hối tiếc về những trải nghiệm chưa từng có, những ước mơ không dám thực hiện hơn

Câu 2

Bài làm:


Trong truyện ngắn Trở về của Thạch Lam, nhân vật người mẹ hiện lên với vẻ đẹp tảo tần, hy sinh thầm lặng và tình yêu thương con vô bờ bến. Dù cuộc sống nghèo khổ, cô đơn và tuổi già đè nặng, người mẹ ấy vẫn luôn dành tất cả tình cảm cho người con trai – nhân vật Tâm – mà bà hằng mong nhớ suốt sáu năm xa cách.


Người mẹ xuất hiện với hình ảnh lam lũ, già nua trong bộ áo cũ kỹ, bước đi chậm chạp, nhưng ánh mắt vẫn chứa chan yêu thương khi nhìn thấy con. Bà không trách móc con đã lâu không về, không hỏi han, không viết thư, mà chỉ lặng lẽ rơi nước mắt, nghẹn ngào thốt lên: “Con đã về đấy ư?” Sự xúc động ấy là minh chứng cho tình cảm bao dung, không điều kiện của người mẹ quê. Dù con trai hững hờ, thờ ơ và gần như xa lạ với chính mảnh đất sinh ra mình, bà vẫn dành cho con sự chăm sóc, lo lắng từ miếng ăn đến sức khỏe.


Nét đẹp của người mẹ còn thể hiện qua sự lặng thầm chịu đựng. Sáu năm qua, bà sống trong sự nhớ thương, mong mỏi và cả sự cô đơn đến quặn lòng, nhưng không một lời than thân. Bà yêu con đến mức vẫn giữ nguyên căn nhà cũ, vẫn nhớ đến từng người bạn thuở nhỏ của con, vẫn quan tâm tới từng điều nhỏ nhặt trong cuộc sống của con trai mình. Trước sự lạnh nhạt, vội vàng của Tâm, bà chỉ biết cầm lấy tiền với đôi tay run rẩy, rơm rớm nước mắt – giọt nước mắt của tình mẫu tử nghẹn ngào, cam chịu.


Thạch Lam đã rất tinh tế khi khắc họa người mẹ bằng những chi tiết nhỏ nhưng đầy xúc động. Qua đó, nhà văn không chỉ thể hiện sự cảm thông với thân phận người mẹ nông thôn trong xã hội cũ, mà còn phê phán thái độ vô tâm, bạc bẽo của lớp người trẻ khi chạy theo lối sống hiện đại mà quên mất cội nguồn.


Nhân vật người mẹ trong truyện là hình ảnh tiêu biểu cho vẻ đẹp của tình mẫu tử thiêng liêng, bất diệt – một giá trị nhân văn sâu sắc mà Thạch Lam đã dày công gửi gắm.

Câu 1

Mark Twain đã từng nói: “Hai mươi năm sau bạn sẽ hối hận vì những gì bạn đã không làm, hơn là những gì bạn đã làm.” Câu nói ấy như một lời thức tỉnh, nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của sự dũng cảm dấn thân và sống trọn vẹn với từng cơ hội trong cuộc đời. Trong hành trình sống, có những cơ hội chỉ đến một lần. Nếu ta vì sợ hãi, ngại ngùng mà bỏ lỡ, về sau dù có hối tiếc cũng không thể quay lại. Chúng ta dễ hối tiếc về những trải nghiệm chưa từng có, những ước mơ không dám thực hiện hơn

Câu 2

Bài làm:


Trong truyện ngắn Trở về của Thạch Lam, nhân vật người mẹ hiện lên với vẻ đẹp tảo tần, hy sinh thầm lặng và tình yêu thương con vô bờ bến. Dù cuộc sống nghèo khổ, cô đơn và tuổi già đè nặng, người mẹ ấy vẫn luôn dành tất cả tình cảm cho người con trai – nhân vật Tâm – mà bà hằng mong nhớ suốt sáu năm xa cách.


Người mẹ xuất hiện với hình ảnh lam lũ, già nua trong bộ áo cũ kỹ, bước đi chậm chạp, nhưng ánh mắt vẫn chứa chan yêu thương khi nhìn thấy con. Bà không trách móc con đã lâu không về, không hỏi han, không viết thư, mà chỉ lặng lẽ rơi nước mắt, nghẹn ngào thốt lên: “Con đã về đấy ư?” Sự xúc động ấy là minh chứng cho tình cảm bao dung, không điều kiện của người mẹ quê. Dù con trai hững hờ, thờ ơ và gần như xa lạ với chính mảnh đất sinh ra mình, bà vẫn dành cho con sự chăm sóc, lo lắng từ miếng ăn đến sức khỏe.


Nét đẹp của người mẹ còn thể hiện qua sự lặng thầm chịu đựng. Sáu năm qua, bà sống trong sự nhớ thương, mong mỏi và cả sự cô đơn đến quặn lòng, nhưng không một lời than thân. Bà yêu con đến mức vẫn giữ nguyên căn nhà cũ, vẫn nhớ đến từng người bạn thuở nhỏ của con, vẫn quan tâm tới từng điều nhỏ nhặt trong cuộc sống của con trai mình. Trước sự lạnh nhạt, vội vàng của Tâm, bà chỉ biết cầm lấy tiền với đôi tay run rẩy, rơm rớm nước mắt – giọt nước mắt của tình mẫu tử nghẹn ngào, cam chịu.


Thạch Lam đã rất tinh tế khi khắc họa người mẹ bằng những chi tiết nhỏ nhưng đầy xúc động. Qua đó, nhà văn không chỉ thể hiện sự cảm thông với thân phận người mẹ nông thôn trong xã hội cũ, mà còn phê phán thái độ vô tâm, bạc bẽo của lớp người trẻ khi chạy theo lối sống hiện đại mà quên mất cội nguồn.


Nhân vật người mẹ trong truyện là hình ảnh tiêu biểu cho vẻ đẹp của tình mẫu tử thiêng liêng, bất diệt – một giá trị nhân văn sâu sắc mà Thạch Lam đã dày công gửi gắm.

Câu 1:

Lối sống chủ động là chìa khóa dẫn đến thành công và hạnh phúc trong xã hội hiện đại đầy biến động. Trong một thế giới luôn thay đổi nhanh chóng, khả năng tự định hướng, tự quyết định và hành động một cách tích cực là điều cần thiết để vượt qua thách thức và đạt được mục tiêu cá nhân. Một người sống chủ động không chỉ phản ứng thụ động trước hoàn cảnh mà còn chủ động tìm kiếm cơ hội, nắm bắt thời cơ và tạo ra sự khác biệt. Họ đặt ra mục tiêu rõ ràng, lập kế hoạch chi tiết và kiên trì thực hiện, không ngừng học hỏi và trau dồi kiến thức, kỹ năng để hoàn thiện bản thân. Hơn nữa, lối sống chủ động còn giúp con người xây dựng lòng tự tin, khả năng thích ứng và giải quyết vấn đề hiệu quả, từ đó tạo nên một cuộc sống ý nghĩa và trọn vẹn hơn. Tóm lại, trong thời đại ngày nay, lối sống chủ động không chỉ là một lựa chọn mà là một yếu tố quan trọng quyết định thành công và hạnh phúc của mỗi cá nhân.

Câu 2:

Đoạn thơ trích từ "Bảo kính cảnh giới" của Nguyễn Trãi đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, thanh bình và giàu sức sống. Hình ảnh "hoè lục đùn đùn tán rợp trương", "thạch lựu hiên còn phun thức đỏ", "hồng liên trì đã tịn mùi hương" gợi lên một không gian mùa thu tràn đầy sắc màu và hương thơm quyến rũ. Âm thanh "lao xao chợ cá làng ngư phủ", "dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương" lại tạo nên một bức tranh âm thanh sống động, thể hiện sự nhộn nhịp của cuộc sống thường nhật. Sự kết hợp hài hòa giữa cảnh vật và âm thanh đã tạo nên một bức tranh toàn cảnh sinh động, thể hiện sự thịnh vượng và an bình của đất nước. Thông qua bức tranh này, tác giả ngầm khẳng định một triết lý sống: khi đất nước thái bình, nhân dân ấm no thì cuộc sống mới thực sự tươi đẹp và ý nghĩa. Đoạn thơ không chỉ là một bức tranh phong cảnh mà còn là một lời nhắn nhủ sâu sắc về tầm quan trọng của hòa bình và thịnh vượng.