ĐỖ QUỲNH ANH
Giới thiệu về bản thân
Sự phát triển và phân bố nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào các tài nguyên: đất, khí hậu, nước và sinh vật. * Tài nguyên đất: - Đất là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất không thể thay thế được của ngành nông nghiệp. - Tài nguyên đất ở nước ta khá đa dạng. Hai nhóm đất chiếm diện tích lớn nhất là đất phù sa và đất feralit. + Đất phù sa có diện tích khoảng 3 triệu ha thích hợp nhất với cây lúa nước và nhiều loại cây ngắn ngày khác, tập trung ở đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và các đồng bằng ven biển miền Trung. + Đất feralit chiếm diện tích trên 16 triệu ha, tập trung chủ yếu ở trung du và miền núi, thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp lâu năm như cà phê, chè, cao su, cây ăn quả và một số cây ngắn ngày như sắn, ngô, đậu tương,... - Hiện nay, diện tích đất nông nghiệp ở nước ta là hơn 9 triệu ha. * Tài nguyên khí hậu: - Nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm. Nguồn nhiệt ẩm phong phú làm cho cây cối xanh tươi quanh năm, sinh trưởng nhanh, có thể trồng từ hai đến ba vụ lúa và rau, màu trong một năm; nhiều loại cây công nghiệp và cây ăn quả phát triển tốt. - Khí hậu nước ta có sự phân hoá rõ rệt theo chiều bắc - nam, theo mùa và theo độ cao. Vì vậy, ở nước ta có thể trồng được từ các loại cây nhiệt đới cho đến một số cây cận nhiệt và ôn đới. Cơ cấu mùa vụ và cơ cấu cây trồng cũng khác nhau giữa các vùng. - Tuy nhiên bão, gió Tây khô nóng, sự phát triển của sâu bệnh trong điều kiện khí hậu nóng ẩm và các thiên tai khác như sương muối, rét hại,... gây tổn thất không nhỏ cho nông nghiệp. * Tài nguyên nước: - Nước ta có mạng lưới sông ngòi, ao hồ dày đặc. Các hệ thống sông đều có giá trị đáng kể về thuỷ lợi. Nguồn nước ngầm cũng khá dồi dào. Đây là nguồn nước tưới rất quan trọng, nhất là vào mùa khô; điển hình là ở các vùng chuyên canh cây công nghiệp của Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. - Tuy nhiên ở nhiều lưu vực sông, lũ lụt gây thiệt hại lớn về mùa màng, tính mạng và tài sản của nhân dân; còn về mùa khô lại thường bị cạn kiệt, thiếu nước tưới. * Tài nguyên sinh vật: Nước ta có tài nguyên thực động vật phong phú, là cơ sở để nhân dân ta thuần dưỡng, tạo nên các giống cây trồng, vật nuôi; trong đó nhiều giống cây trồng, vật nuôi có chất lượng tốt, thích nghi với các điều kiện sinh thái của từng địa phương.
Sự phát triển và phân bố nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào các tài nguyên: đất, khí hậu, nước và sinh vật. * Tài nguyên đất: - Đất là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất không thể thay thế được của ngành nông nghiệp. - Tài nguyên đất ở nước ta khá đa dạng. Hai nhóm đất chiếm diện tích lớn nhất là đất phù sa và đất feralit. + Đất phù sa có diện tích khoảng 3 triệu ha thích hợp nhất với cây lúa nước và nhiều loại cây ngắn ngày khác, tập trung ở đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và các đồng bằng ven biển miền Trung. + Đất feralit chiếm diện tích trên 16 triệu ha, tập trung chủ yếu ở trung du và miền núi, thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp lâu năm như cà phê, chè, cao su, cây ăn quả và một số cây ngắn ngày như sắn, ngô, đậu tương,... - Hiện nay, diện tích đất nông nghiệp ở nước ta là hơn 9 triệu ha. * Tài nguyên khí hậu: - Nước ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm. Nguồn nhiệt ẩm phong phú làm cho cây cối xanh tươi quanh năm, sinh trưởng nhanh, có thể trồng từ hai đến ba vụ lúa và rau, màu trong một năm; nhiều loại cây công nghiệp và cây ăn quả phát triển tốt. - Khí hậu nước ta có sự phân hoá rõ rệt theo chiều bắc - nam, theo mùa và theo độ cao. Vì vậy, ở nước ta có thể trồng được từ các loại cây nhiệt đới cho đến một số cây cận nhiệt và ôn đới. Cơ cấu mùa vụ và cơ cấu cây trồng cũng khác nhau giữa các vùng. - Tuy nhiên bão, gió Tây khô nóng, sự phát triển của sâu bệnh trong điều kiện khí hậu nóng ẩm và các thiên tai khác như sương muối, rét hại,... gây tổn thất không nhỏ cho nông nghiệp. * Tài nguyên nước: - Nước ta có mạng lưới sông ngòi, ao hồ dày đặc. Các hệ thống sông đều có giá trị đáng kể về thuỷ lợi. Nguồn nước ngầm cũng khá dồi dào. Đây là nguồn nước tưới rất quan trọng, nhất là vào mùa khô; điển hình là ở các vùng chuyên canh cây công nghiệp của Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. - Tuy nhiên ở nhiều lưu vực sông, lũ lụt gây thiệt hại lớn về mùa màng, tính mạng và tài sản của nhân dân; còn về mùa khô lại thường bị cạn kiệt, thiếu nước tưới. * Tài nguyên sinh vật: Nước ta có tài nguyên thực động vật phong phú, là cơ sở để nhân dân ta thuần dưỡng, tạo nên các giống cây trồng, vật nuôi; trong đó nhiều giống cây trồng, vật nuôi có chất lượng tốt, thích nghi với các điều kiện sinh thái của từng địa phương.
Câu 1: Thất ngôn tứ tuyệt
Câu 1: Văn bản trên thuộc thể thơ thất ngôn tứ tuyệt.
Câu 2: Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả là: “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá/ Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”. Hình ảnh này thể hiện cuộc sống giản dị, hòa mình với thiên nhiên của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Câu 3: Biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong hai câu thơ “Một mai, một cuốc, một cần câu/ Thơ thẩn dầu ai vui thú nào” liệt kê những vật dụng đơn sơ, giản dị: một mai, một cuốc, một cần câu. Tác dụng của biện pháp tu từ này là nhấn mạnh sự giản dị, thanh bạch trong cuộc sống của tác giả, đồng thời thể hiện sự hài lòng với cuộc sống đó, không màng danh lợi.
Câu 4: Quan niệm dại - khôn của tác giả trong hai câu thơ “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ/ Người khôn, người đến chốn lao xao” rất đặc biệt. Tác giả tự nhận mình là người “dại” khi chọn cuộc sống thanh tĩnh, xa lánh chốn bon chen, ngược lại gọi những người theo đuổi danh lợi là “khôn”. Đây là sự đảo ngược quan niệm thông thường, thể hiện sự khước từ danh lợi, đề cao lối sống thanh cao của tác giả.
Câu 5: Qua bài thơ, Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên với vẻ đẹp nhân cách thanh cao, giản dị, không màng danh lợi. Ông tìm đến sự tĩnh lặng, hòa mình với thiên nhiên, sống cuộc đời đạm bạc nhưng giàu chất thiền. Sự “dại” của ông là sự khôn ngoan, là sự lựa chọn lối sống hướng thiện, hướng đến giá trị tinh thần đích thực. Ông là hình ảnh tiêu biểu của người trí thức tài hoa nhưng vẫn giữ được khí tiết thanh cao, đáng ngưỡng mộ.
Câu 1: Thất ngôn tứ tuyệt
Câu 1: Văn bản trên thuộc thể thơ thất ngôn tứ tuyệt.
Câu 2: Những hình ảnh nói về nét sinh hoạt hàng ngày đạm bạc, thanh cao của tác giả là: “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá/ Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”. Hình ảnh này thể hiện cuộc sống giản dị, hòa mình với thiên nhiên của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Câu 3: Biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong hai câu thơ “Một mai, một cuốc, một cần câu/ Thơ thẩn dầu ai vui thú nào” liệt kê những vật dụng đơn sơ, giản dị: một mai, một cuốc, một cần câu. Tác dụng của biện pháp tu từ này là nhấn mạnh sự giản dị, thanh bạch trong cuộc sống của tác giả, đồng thời thể hiện sự hài lòng với cuộc sống đó, không màng danh lợi.
Câu 4: Quan niệm dại - khôn của tác giả trong hai câu thơ “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ/ Người khôn, người đến chốn lao xao” rất đặc biệt. Tác giả tự nhận mình là người “dại” khi chọn cuộc sống thanh tĩnh, xa lánh chốn bon chen, ngược lại gọi những người theo đuổi danh lợi là “khôn”. Đây là sự đảo ngược quan niệm thông thường, thể hiện sự khước từ danh lợi, đề cao lối sống thanh cao của tác giả.
Câu 5: Qua bài thơ, Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên với vẻ đẹp nhân cách thanh cao, giản dị, không màng danh lợi. Ông tìm đến sự tĩnh lặng, hòa mình với thiên nhiên, sống cuộc đời đạm bạc nhưng giàu chất thiền. Sự “dại” của ông là sự khôn ngoan, là sự lựa chọn lối sống hướng thiện, hướng đến giá trị tinh thần đích thực. Ông là hình ảnh tiêu biểu của người trí thức tài hoa nhưng vẫn giữ được khí tiết thanh cao, đáng ngưỡng mộ.