NGUYỄN VÂN NGỌC
Giới thiệu về bản thân
- Về Nông nghiệp: Đẩy mạnh cướp đoạt ruộng đất của nông dân để lập các đồn điền trồng lúa, cao su, cà phê, chè... Đồng thời, Pháp tiếp tục duy trì phương thức bóc lột phong kiến (phát canh thu tô).
- Về Công nghiệp: Tập trung khai thác khoáng sản, đặc biệt là than đá (Hòn Gai, Quảng Ninh) và kim loại (thiếc, kẽm) để xuất khẩu về Pháp. Hạn chế phát triển công nghiệp nặng, chỉ chú trọng công nghiệp nhẹ (xi măng, gạch, điện, giấy, xay xát gạo).
- Về Giao thông vận tải: Xây dựng hệ thống đường sắt, đường bộ, cầu cảng (đường sắt Bắc-Nam, cầu Long Biên...) nhằm mục đích khai thác kinh tế và phục vụ quân sự, đàn áp các cuộc đấu tranh của nhân dân.
- Về Thương nghiệp và Tài chính: Độc chiếm thị trường Việt Nam. Hàng hóa Pháp nhập vào được miễn hoặc giảm thuế, trong khi hàng hóa nước khác bị đánh thuế cao. Tăng các loại thuế cũ và đặt ra nhiều thuế mới, nặng nhất là thuế muối, rượu, và thuốc phiện.
- Về Văn hóa - Giáo dục: Thực hiện chính sách ngu dân, kìm hãm nhân dân trong vòng tăm tối để dễ cai trị, song song với việc sử dụng hệ thống giáo dục nô dịch để tạo ra lớp người phục tùng.
a) Các bộ phận của vùng biển Việt Nam: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam
– Nội thuỷ là vùng nước tiếp giáp với bờ biển, ở phía trong đường cơ sở và là bộ phận lãnh thổ của Việt Nam.
- Lãnh hải là vùng biển có chiều rộng 12 hải lí tính từ đường cơ sở ra phía biển. Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam.
– Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển tiếp liên và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, có chiều rộng 12 hải lí tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải.
- Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp với lãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lí tính từ đường cơ sở
– Thềm lục địa Việt Nam là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền, các đảo và quần đảo của Việt Nam cho đến mép ngoài của rìa lục địa.
b) - Ý nghĩa đối với nền kinh tế:
+) Khai thác tối đa tiềm năng: Tận dụng lợi thế đa dạng của vùng biển (thủy sản, khoáng sản, du lịch, giao thông) để phát triển đồng bộ các ngành, tránh lãng phí tài nguyên.
+) Đem lại hiệu quả kinh tế cao: Phát triển đa ngành giúp gia tăng nguồn thu, tạo công ăn việc làm cho cư dân ven biển, nâng cao đời sống nhân dân.
+) Phát triển bền vững: Tổng hợp các ngành đi đôi với bảo vệ tài nguyên và môi trường biển - đảo.
- Ý nghĩa đối với bảo vệ an ninh, quốc phòng:
+) Khẳng định chủ quyền: Sự hiện diện của các hoạt động kinh tế (tàu cá, tàu vận tải, khu du lịch) trên biển và đảo là bằng chứng thực tế vững chắc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia.
+) Tạo thế trận quốc phòng toàn dân: Sự phát triển kinh tế biển gắn liền với việc xây dựng khu vực biển, đảo vững mạnh, tạo "điểm sáng" về an ninh.
+) Hỗ trợ an ninh, quốc phòng: Phát triển giao thông, hạ tầng biển tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm soát, tuần tra, ứng cứu và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.