Trần Khánh Ninh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Trần Khánh Ninh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1 Thể thơ Thất ngôn bát cú đường luật Câu 2 Đối tượng trào phúng trong bài thơ là tác giả Câu 3 -Từ "làng nhàng" trong bài thơ nghĩa là chỉ hơi gầy - Từ này góp phần thể hiện thái độ mỉa mai của tác giả đối với chính mình, cho thấy cảm xúc chưa hài lòng và có í chế diễu bản thân. Câu 4 Nghệ thuật trào phúng trong 2 câu thơ thực là biện pháp ẩn dụ Tác dụng : tạo ra tiếng cười hóm hỉnh nhưng sâu cay diễn tả sự bế tắc thất bại dang dở của chính tác giả trước thời cuộc đất nước. Câu 5 Hai câu thơ hiện tâm trạng chán trường tự giễu cợt của tác giả trước thực tế bản thân dù đỗ đạt cao nhưng lại bất lực vô dụng trước thời cuộc đất nước đang gặp khó khăn Câu 6 Từ thông điệp của bài thơ , giới trẻ ngày nay cần nhận thức rõ trách nhiệm của bản thân ra sức học tập rèn luyện để có đủ trí thức và bản lĩnh đóng góp cho sự phát triển của đất nước.

Câu 1 Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt đường Luật Câu 2 Từ tượng hình trong bài thơ là " cheo leo" Trợ từ : " kìa" Câu 3 Những chi tiết miêu tả hành động thái độ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương khi qua đền Sầm Nghi Đống là " ghé mắt trông ngang kìa" Nhận xét : Ta cảm nhận được cái nhìn khinh rẻ coi thường của nhà thơ với kẻ xâm lược bại trận đây là cái nhìn châm biếm sâu cay đấy chế giễu , từ "kìa" còn cho thấy sự coi thường mỉa mai của nữ sĩ. Câu 4 Trong 2 câu thơ đã cho tác giả sử dụng bptt nhân hoá " đền Thái Thú đứng treo leo" Tác dụng Nhân hoá khiến cho đền Thái Thú hiện lên sinh động, gợi hình ảnh ngôi đền ở thế chông chênh không vững . Thông qua hình ảnh đó tác giả còn thể hiện sự coi thường khinh bỉ đối với kẻ thù bại trận Sầm Nghi Đống. Câu 5 Bài thơ gửi gắm tinh thần dân tộc mạnh mẽ khát vọng của bình đẳng giới

Sắc thái của từ thiếu phụ là trang trọng và cổ điển

Em đồng ý với ý kiến vì tiếng cười có sức mạnh của một thứ vũ khí chống lại cái chưa hay chưa đẹp, là một cách để phê phán những thói hư tật xấu

Tú Xương là một nhà thơ lớn, sinh vào thời kì đau thương, khó khăn nhất của đất nước khi dân ta đang một lòng sục sôi đánh giặc. Trước tình cảnh nước mất nhà tan, những rối ren của thời cuộc, ông đã viết lên nhiều vần thơ sâu sắc mà chua xót những tác phẩm tiêu biểu phải kể đến bài thơ “ Đất Vị Hoàng”. Bài thơ là tinh thần, lẽ sống của con người đồng thời thể hiện thái độ châm biếm các thói hư tật xấu trong xã hội lúc bấy giờ. Trước hết, Đất Vị Hoàng được viết ở thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật, là bài thơ thể hiện niềm xót xa trước vận mệnh dân tộc. Vị Hoàng là nơi sinh ra của Tú Xương, – một vùng quê đầy bình yên có những thứ đặc sản nổi tiếng. Ngày giặc đến nhà, vùng quê bình yên đó trở nên xơ xác, tiêu điều. Là một người nặng tình với quê hương đất nước, Tú Xương đau đớn cho quê nhà, xót thương trước vận mệnh đất nước bị đảo lộn. Những việc xấu, “ đổi trắng thay đen” cứ thế bày ra trước mắt, nỗi đau chồng chất nỗi đau. Từ đó bài thơ “Đất Vị Hoàng” ra đời để tố cáo cái xã hội lúc bấy giờ. Mở đầu bài thơ, nhà thơ đi thẳng vào vấn đề: Có đất nào như đất ấy không? Phố phường tiếp giáp với bờ sông Câu hỏi tu từ ngay phần mở đầu, “có đất nào như đất ấy không?” gợi cho ta thật nhiều suy nghĩ. Mảnh đất của sự phồn vinh, bình yên, tuyệt đẹp với những bờ sông trải dài nay còn đâu. Giọng thơ trở nên thật chua chát trước cảnh nơi chôn rau cắt rốn của mình ngày càng đổi thay, các câu chuyện ngày càng đau lòng. Phồn vinh thì cũng không còn là của ta nữa, mà trở thành một nơi “ăn chơi sa đọa”, chốn để quân Pháp chơi bời. Còn gì đớn đau thay khi một quê hương phồn vinh hơn nhưng lại chẳng phải của chúng ta. Và cũng thật chua xót biết bao khi đó là nỗi đau không chỉ ở quê hương Tú Xương mà đó còn chính là nỗi đau của toàn dân tộc – một vùng trù phú rộng lớn trở nên tiêu điều xơ xác, một vùng chỉ có xác “phồn vinh” nhưng lại thiếu đi phần hồn. Đất nước bị chiếm đóng, phồn vinh kéo theo những hệ lụy, những đạo lý truyền thống của chúng ta bị đảo lộn. Nhà kia lỗi phép con khinh bố Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng Giặc chiếm đất, chiếm nhà, chiếm ruộng,… của ta, phố phường cứ thế mọc lên và chúng càng vơ vét, càng bóc lột ta để làm giàu. Những đạo lý truyền thống chữ “ hiếu” luôn đặt lên hàng đầu của ta từ ngàn đời nay còn đâu khi “ con khinh bố”. Bố mẹ là người chăm lo cho ta, vậy lý do nào đã khiến cho tình cảm thiêng liêng ấy bị coi thường. Đó còn là “mụ vợ chanh chua”, người con gái nước Nam dịu dàng, nữ tính đi đâu mất rồi, thay vào đó lại là “ mụ vợ chửi chồng”. Lí do gì đã khiến mọi trật tự, mọi đạo lí truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta bị đảo lộn, bị xáo trộn như vậy? Phải chăng đồng tiền đã làm cho con người ta mờ mắt, chỉ ham đến vinh hoa phú quý mà bỏ quên những điều xưa cũ, những đạo lí ân nghĩa thủy chung, những chuẩn mực đạo đức của ta. Ta thật sợ, ghê tởm cái xã hội nhem nhuốc, dơ bẩn lúc bấy giờ. Một gia đình không tốt, “hỏng” từ vợ - chồng đến con cái, vậy xã hội làm sao tốt đẹp đây? Keo cú người đâu như cứt sắt Tham lam chuyện thở rặt hơi đồng Hai câu thơ sau là cảnh vẽ về con người đối nhau, một tứ thơ đầy hoàn thiện nhưng cũng đầy chua xót. Những kẻ tham lam, keo cú trên đất nước ta nhiều vô kể. Họ bần tiện, ghê gớm đến nỗi “như cứt sắt”- một chất thải ra từ đất nung không còn thể đẽo gặm gì nữa. Đó còn là những con người tham lam, vơ vét cho bản thân mà quên đi cái giá trị của con người, mở miệng ra là thấy nói chuyện tiền, lấy tiền làm chuẩn mực của đạo đức, đánh giá một con người. Thối tha thay cái xã hội lúc bấy giờ, đớn đau thay cho những con người bị tha hóa. Nhà thơ Tú Xương thật tài tình khi vận dụng nghệ thuật so sánh kết hợp với biện pháp đảo ngữ làm cho các câu thơ trở nên có giá trị thẩm mĩ cao. Giọng thơ trở nên dữ dội, khinh bỉ hơn bao giờ hết. Đó là một bản cáo trạng mà nhà thơ viết lên để tố cáo những kẻ tham lam, vì tiền mà đánh mất đạo đức con người. Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh Có đất nào như đất ấy không? Tú Xương kịch liệt lên án, tố cáo những thói hư tật xấu của con người lúc bấy giờ, hiện thực thối nát, cái xấu, cái ác, trắng đen lẫn lộn… Câu hỏi tu từ ở cuối đoạn như một tiếng khóc tỉ tê, thương thay cho vận mệnh đất nước. Mở đầu và kết thúc đều là câu hỏi “Có đất nào như đất ấy không?” vừa xót xa, đay nghiến cái xã hội thối nát lúc bấy giờ. Nói tóm lại, bằng nghệ thuật châm biếm, câu hỏi tu từ đầu cuối tương ứng, bài thơ Đất Vị Hoàng đã vạch trần được bộ mặt thật của xã hội nửa phong kiến đồng thời qua đây nhà thơ Tú Xương cũng bày tỏ thái độ tố cáo, đả kích sâu cay với những con người vì đồng tiền mà đánh mất giá trị bản thân, giá trị đạo đức xã hội. Đó là nỗi đau của người trong cuộc, đớn đau trước vận mệnh đất nước.

1. Bài thơ "cảnh ngày hè" được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú đường luật.

2.những hình ảnh thiên nhiên được nhắc đến trong bốn dòng thơ đầu là:hoa hoè, hoa thạch lựu và hoa sen.

3.BPTT đảo ngữ trong câu 2 câu thơ có tác dụng nhấn mạnh âm thanh sống động của cuộc sống thường nhật và tạo ra sự tương phản mạnh mẽ với âm thanh tĩnh lặng,gợi cảm của thiên nhiên chiều tà.

4.Tác giả đã bộc lộ khát vọng về cuộc sống thái bình, ấm no cho nhân dân của Nguyễn Trãi, thể hiện tình cảm, tấm lòng yêu nước thương dân của ông

5.chủ đề của bài thơ là "cảnh ngày hè", em xác định được điều này dựa trên việc tác giả miêu tả bức tranh thiên nhiên ngày hè tươi đẹp, sôi động .

6. Từ niềm vui giản dị mà Nguyễn Trãi tìm thấy trong thiên nhiên mùa hè, em rút ra được bài học cho bản thân trong việc giữ gìn tình thần lạc quan,biết tận hưởng những điều bình dị quanh mình là không nên vì quá ham danh vọng mà lao vào đấu đá , xô bồ mà quên mất bản thân nên biết làm việc vừa sức , khi mệt thì nên thả lỏng tận hưởng những giây phút bình yên .