Nguyễn Thùy Trang
Giới thiệu về bản thân
II. PHẦN VIẾT
Câu 1:
Thói bắt chước nếu không đúng cách sẽ gây ra nhiều tác hại đối với con người trong cuộc sống. Khi chỉ biết sao chép người khác, con người sẽ dần mất đi bản sắc và khả năng sáng tạo của chính mình. Bắt chước còn khiến con người trở nên phụ thuộc, thiếu tự tin vào năng lực bản thân. Nhiều người vì chạy theo người khác mà bỏ qua điểm mạnh riêng, dẫn đến thất bại và thất vọng. Ngoài ra, thói bắt chước mù quáng còn có thể gây ra những hậu quả xấu nếu làm theo những hành vi sai trái. Vì vậy, mỗi người cần học hỏi có chọn lọc và biết phát huy giá trị riêng của mình.
Câu 2:
Trong cuộc đời học sinh của em, có một trải nghiệm để lại ấn tượng sâu sắc và giúp em thay đổi suy nghĩ, cách sống của bản thân. Đó là lần em lần đầu tiên dám đứng lên nhận lỗi trước tập thể lớp.
Hôm đó, lớp em được giao trực nhật cuối tuần. Vì mải chơi và nghĩ rằng có các bạn khác làm thay, em đã không tham gia đầy đủ công việc. Kết quả là lớp bị trừ điểm thi đua. Khi cô giáo chủ nhiệm hỏi, cả lớp im lặng, còn em thì lo lắng và sợ hãi. Em biết mình có lỗi nhưng lại không đủ can đảm để nói ra sự thật. Nhìn ánh mắt thất vọng của cô và sự im lặng nặng nề trong lớp, em cảm thấy vô cùng ân hận.
Sau một hồi suy nghĩ, em đã mạnh dạn đứng dậy xin lỗi cô và nhận hoàn toàn trách nhiệm về mình. Lúc đó, tim em đập rất nhanh, giọng nói run run vì lo sợ bị trách phạt. Tuy nhiên, cô giáo không mắng em mà nhẹ nhàng khuyên nhủ, đồng thời khen em vì đã trung thực và dám chịu trách nhiệm. Các bạn trong lớp cũng nhìn em với ánh mắt cảm thông hơn.
Trải nghiệm ấy khiến em nhận ra rằng việc dám đối diện với lỗi lầm tuy khó khăn nhưng lại giúp bản thân trưởng thành hơn. Em học được cách sống trung thực, có trách nhiệm và biết sửa sai. Đến bây giờ, đó vẫn là một kỉ niệm buồn nhưng vô cùng ý nghĩa, giúp em tự tin hơn trong cuộc sống và học tập.
Câu 1:
Câu chuyện trên được kể theo ngôi kể thứ ba.
Câu 2:
Hai từ láy trong câu chuyện là khấp khởi và lăng xăng.
Câu 3:
Câu chuyện trên thuộc thể loại truyện đồng thoại vì các nhân vật là loài vật như Vẹt, Vịt, Gà Trống, Ếch… nhưng được nhân hoá, có suy nghĩ, lời nói, hành động và tính cách như con người. Qua đó, tác giả gửi gắm bài học giáo dục con người.
Câu 4:
Em không đồng tình với hành động bắt chước của Vẹt vì Vẹt chỉ sao chép tiếng hót của loài khác mà không có tiếng hót riêng, dẫn đến thất bại và bị mọi người nhận ra sự huênh hoang, tự mãn của mình.
Câu 5:
Từ câu chuyện, em rút ra bài học rằng mỗi người cần rèn luyện năng lực thật của bản thân, sống khiêm tốn, không nên bắt chước người khác một cách máy móc mà phải tạo ra giá trị riêng cho mình.
Trong cuộc sống của mỗi người, chắc hẳn ai cũng từng trải qua những nỗi buồn. Với em, trải nghiệm buồn có ý nghĩa nhất là lần em bị hiểu lầm trong một buổi làm việc nhóm ở lớp, một kỉ niệm khiến em buồn rất lâu nhưng cũng giúp em trưởng thành hơn.
Hôm đó, lớp em được giao làm một bài thuyết trình theo nhóm. Em đã dành rất nhiều thời gian để tìm tài liệu, thiết kế slide và chuẩn bị nội dung. Tuy nhiên, đến ngày thuyết trình, do sơ suất, em quên mang theo bản ghi chú quan trọng. Khi thuyết trình, em nói thiếu một vài ý, khiến phần trình bày không được trọn vẹn. Sau giờ học, một số bạn trong nhóm cho rằng em làm việc thiếu trách nhiệm và không chuẩn bị nghiêm túc. Nghe những lời đó, em rất buồn và tủi thân vì cảm thấy công sức của mình không được công nhận.
Tối hôm ấy, em đã khóc rất nhiều. Em vừa buồn vì bị hiểu lầm, vừa giận bản thân vì đã bất cẩn. Sau khi bình tĩnh lại, em quyết định nhắn tin giải thích rõ với các bạn trong nhóm về quá trình chuẩn bị của mình và nhận lỗi vì sự thiếu sót. Thật may mắn, các bạn đã hiểu ra và thông cảm cho em. Cả nhóm cùng ngồi lại để rút kinh nghiệm cho những lần làm việc sau.
Trải nghiệm buồn ấy tuy không vui nhưng lại mang đến cho em một bài học sâu sắc. Em học được rằng trong công việc chung, sự cẩn thận và trách nhiệm là vô cùng quan trọng. Đồng thời, em cũng hiểu rằng khi gặp hiểu lầm, cần bình tĩnh giải thích và lắng nghe để mọi việc được giải quyết tốt đẹp. Chính nỗi buồn đó đã giúp em trưởng thành hơn và biết trân trọng tinh thần hợp tác, chia sẻ với mọi người xung quanh.
Câu 1: Văn bản thuộc thể loại truyện đồng thoại.
Câu 2: Những hạt dẻ gai lớn lên trong rừng già, trên sườn núi cao cheo leo, phải trải qua mùa hè nắng lửa, mưa dông, mùa thu khô hanh và mùa đông gió lạnh buốt, trong điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt.
Câu 3: Hai từ láy trong văn bản là “xù xì” và “lồng lộng”. Từ “xù xì” chỉ bề mặt thô ráp, nhiều gai góc của trái dẻ. Từ “lồng lộng” chỉ không gian rộng lớn, thoáng đãng, gió thổi mạnh và liên tục.
Câu 4: Nhân vật “tôi” là hạt dẻ gai được nhân hoá, có suy nghĩ, cảm xúc, lời nói và hành động như con người, mang đặc điểm tiêu biểu của nhân vật trong truyện đồng thoại.
Câu 5: Văn bản giúp em hiểu rằng mỗi người cần dũng cảm rời khỏi sự bao bọc để trưởng thành, biết tự lập, sẵn sàng đối mặt với thử thách và luôn trân trọng tình yêu thương của cha mẹ.
Câu 1.
Đoạn trích được viết theo thể thơ lục bát.
Câu 2.
Những tiếng hiệp vần với nhau là: mây – hây – vàng (vần ây/ang – vần gần).
Câu 3.
Từ “thơ thẩn” trong đoạn trích có nghĩa là: trạng thái nhẹ nhàng, chậm rãi, ung dung, không vội vã.
Câu 4.
Hai dòng thơ sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá (kết hợp ẩn dụ).
Tác dụng: làm cho dòng sông hiện lên như một con người duyên dáng, điệu đà, tăng sức gợi hình, gợi cảm và làm cho cảnh vật trở nên sinh động, giàu cảm xúc.
Câu 5.
Đoạn trích miêu tả vẻ đẹp duyên dáng, mềm mại, đổi thay theo thời gian trong ngày của dòng sông, thể hiện tình yêu thiên nhiên tha thiết của tác giả.
Câu 6.
Từ vẻ đẹp của dòng sông, em thấy mình cần giữ gìn vệ sinh môi trường, không xả rác bừa bãi xuống sông, tiết kiệm nước, trồng và bảo vệ cây xanh, đồng thời tuyên truyền cho mọi người cùng chung tay bảo vệ thiên nhiên để cảnh đẹp luôn được giữ gìn lâu dài.
Câu1
Bài thơ “Ảnh Bác” của Trần Đăng Khoa gợi lên trong em những cảm xúc thật thiêng liêng và gần gũi. Hình ảnh Bác Hồ hiện lên qua bức ảnh treo trong nhà rất giản dị, thân thương như một người ông luôn dõi theo con cháu. Nụ cười hiền hậu của Bác khiến không gian gia đình thêm ấm áp, yên bình. Qua cái nhìn hồn nhiên của một em nhỏ, Bác không chỉ là vị lãnh tụ kính yêu mà còn là người luôn nhắc nhở các cháu sống ngoan ngoãn, chăm chỉ lao động và biết cảnh giác trước kẻ thù. Những lời dạy của Bác được thể hiện nhẹ nhàng mà sâu sắc, thấm vào lòng người đọc. Bài thơ giúp em thêm kính yêu Bác Hồ, tự nhắc mình phải cố gắng học tập, rèn luyện đạo đức để xứng đáng với tình yêu thương và niềm tin mà Bác dành cho thiếu nhi Việt Nam.
Câu 1.
Văn bản “Chơi Phú Quốc” thuộc kiểu văn bản tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm (bút kí/du kí).
Câu 2.
Hình ảnh gây ấn tượng mạnh mẽ với tác giả về sự trong lành của nước biển Hàm Ninh là: nước biển trong như lọc, nhìn thấy tận đáy, thấy rõ những con chang chang, sứa biển đang bò.
Câu 3.
Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất (“chúng tôi”, “tôi”).
Việc sử dụng ngôi kể này giúp câu chuyện trở nên chân thực, sinh động, thể hiện rõ cảm xúc, suy nghĩ của người kể và tạo sự gần gũi với người đọc.
Câu 4.
Tác giả nhắc đến các hoạt động của người dân Phú Quốc như: đánh cá, đi thẻ mực ban đêm, vá lưới, chuốt mây, phơi lưới.
Những hoạt động đó cho thấy cuộc sống của người dân cần cù, chăm chỉ, gắn bó với biển cả, tuy vất vả nhưng ung dung, an vui và yêu lao động.
Câu 5.
Qua văn bản “Chơi Phú Quốc”, em nhận ra rằng việc trải nghiệm và khám phá những vùng đất mới mang lại nhiều ý nghĩa quý giá. Những chuyến đi giúp con người mở mang hiểu biết, cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống lao động của con người. Trải nghiệm thực tế còn giúp ta trân trọng hơn sự bình yên, tiện nghi của cuộc sống hiện tại. Đồng thời, khám phá những vùng đất mới giúp nuôi dưỡng tâm hồn, khơi gợi tình yêu quê hương, đất nước và tạo nên những kỉ niệm đáng nhớ trong cuộc đời.
Câu 9.
Sau khi đọc những dòng thơ trong bài “Tre Việt Nam” của Nguyễn Duy, em cảm nhận được vẻ đẹp và phẩm chất cao quý của con người Việt Nam. Cây tre tượng trưng cho sự cần cù, bền bỉ, đoàn kết và tinh thần kiên cường, bất khuất trước mọi khó khăn. Qua hình ảnh cây tre, em càng thêm yêu quê hương, đất nước và tự hào về truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Câu 10.
Là một mầm non tương lai của đất nước Việt Nam, em sẽ chăm chỉ học tập, rèn luyện đạo đức, sống yêu thương và có trách nhiệm với gia đình, xã hội. Em sẽ cố gắng giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, nghe lời thầy cô, cha mẹ và phấn đấu trở thành người công dân tốt, góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp.