Ngô Thùy Dương

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Ngô Thùy Dương
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ lớn nhất của nền văn học Việt Nam trong giai đoạn cuối thế kỉ XIX và được mệnh danh là "Tam Nguyên Yên Đổ". Ông là người thầy, là người nghệ sĩ tài hoa của làng cảnh Việt Nam - không chỉ nổi tiếng với trùm thơ bất hủ mà còn biết đến như một bậc thầy của thơ trào phúng. Với giọng điệu thơ hóm hỉnh, sâu cay mà chan chứa tình đời, ông đã phản ánh sinh động những thói hư tật xấu trong xã hội và đời sống thường nhật. " Chế học trò ngủ gật" là một trong số các tác phẩm trào phúng, là một bài thơ tiêu biểu được ông sáng tác khi ông cái quan về quê mở lớp dạy học. Khi gặp cảnh các cậu học trò lười biếng ngủ gật, thay vì tức giận và trách phạt, Nguyễn Khuyến lựa chọn tiếng cười nhẹ nhàng để nhắc nhở. Bài thơ vừa mang đậm chất thơ trào phúng truyền thống, vừa thể hiện tấm lòng hiền hậu của "ông đồ" Nam Định - người thầy thương trò như con bằng sự hiền từ, bao dung và dí dỏm:

"Trò trẹt chi bay học cạnh thầy, Gật gà gật gưỡng nực cười thay !

Giọng khê nồng nặc không ra tiếng

Mắt lại lim dim mắt đã cay

Đồng nổi đâu đây la liệt đảo

Ma men chi đấy tít mù say

Dễ thường bắt chước Chu Y đó,

Quyển có câu thần vậy gật ngay."

Bài thơ "Chế học trò ngủ gật" là một trong những bài thơ thuộc mảng thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến, khai thác đề tài đời sống học đường thời nông thôn xưa, cụ thể là thói quen ngủ gật của học trò. Qua tiếng cười hóm hỉnh, tác giả muốn truyền tải, gửi gắm lời nhắc nhở nhẹ nhàng về thái độ học tập. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, một thể thơ quen thuộc không chỉ được Nguyễn Khuyến mà còn được nhiều thi nhân khác sử dụng. Nó tạo nhịp điệu mềm mại, phù hợp với giọng điệu trào lộng mà hiền hòa.

Đến với hai câu thơ đầu, ta thấy được tiếng cười hướng vào sự lười học vừa đáng trách vừa đáng thương:

"Trò trẹt chi bay học cạnh thầy,

Gật gà gật gưỡng nực cười thay !"

Hai câu này có vai trò mở đầu, giới thiệu trực diện đối tượng bị châm biếm và tạo ra không khí hài hước chung. Đối tượng trào phúng ở đây chính là thái độ học hành mệt mỏi, uể oải, không tập trung của mấy cậu học trò. Tác giả dùng lời lẽ gần gũi, như lời than nhẹ của bậc làm thầy khi chứng kiến cậu học trò của mình đang gật gù. Ông mở đầu bằng lời trách yêu "trẹt chi bay" - một cách nói mộc mạc, mang sắc thái thân thuộc của người thầy nơi làng quê. Lời trách khẽ mà thấm, đủ để khiến người đọc hình dung thầy đang giảng bài, trò ngồi bên cạnh nhưng vẫn ngủ gật. Từ láy "gật gà gật gưỡng" khắc họa tài tình trạng thái nửa tỉnh nửa mê của cậu học trò, là điểm nhấn, là linh hồn của sự hài hước, hóm hỉnh. Hình ảnh hài hước nhưng không ác ý, thể hiện cái nhìn vừa nghiêm khắc vừa bao dung của người thầy. Tiếng cảm thán "nực cười thay" đã thiết lập ngay giọng điệu trào phúng, nhưng là tiếng cười nhẹ nhàng, dí dỏm chứ không phải sự đả kích gay gắt. Phải yêu học trò lắm, thi nhân mới mượn tiếng cười để thay cho sự trách móc nặng về.

Đến với bốn câu thơ tiếp theo, nhà thơ chuyển hướng tiếng cười nhằm vào dáng vẻ lảo đảo, mệt mỏi đến mức như người say rượu:

"Giọng khê nồng nặc không ra tiếng,

Mắt lại lim dim mắt đã cay

Đồng nổi đâu đây la liệt đảo

Ma men chi đấy tít mù say."

Đối tượng trào phúng trong bốn câu thơ này là dáng vẻ ngộ nghĩnh của cậu học trò. Thay vì lời trách móc nặng nề, nhà thơ đã dùng câu từ "giọng khê nồng nặc" - vốn là gợi hình ảnh của người say rượu lại được dùng cho cậu học trò mới lớn. Đây là cách so sánh ngầm hài hước, tạo nên tiếng cười duyên dáng mà không làm trò xấu hổ. Từ láy "lim dim" và cụm từ "nhắp đã cay" mô tả đôi mắt cay xè vì thiếu ngủ, như một góc quay chậm rãi, sinh động. "Đồng nổi đâu đây la liệt đảo" tựa như hình ảnh phóng đại, gợi cảnh lảo đảo như lên đồng, khiến tiếng cười bật ra một cách tự nhiên. Hình ảnh "ma men chi đấy tít mù say" càng làm rõ tiếng cười trào phúng - hình ảnh học trò ngủ gật như người say - sự nghịch lý tạo nên sự cuốn hút cho bài thơ. Nhờ loạt hình ảnh cường điệu mà hợp lí, Nguyễn Khuyến đã biến một cơn buồn ngủ rất đỗi bình thường thành một bức tranh hài hước, giúp ta cười đó mà cũng thương đó.

Cuối cùng là hai câu kết - nơi tác giả hé lộ mục đích phê phán chính:

"Dễ thường bắt chước Chu Y đó,

Quyển có câu thần vậy gật ngay."

Đối tượng châm biếm ở đây là sự biện minh ngây ngô của học trò rằng ngủ gật không phải là lười mà là đang..."bắt chước Chu Y". Điển tích Chu Y - người áo đỏ gật đầu khi bắt gặp câu văn hay - được Nguyễn Khuyến đưa ra một cách dí dỏm, vừa "giễu nhẹ" cậu học trò, vừa khéo léo làm dịu cả bài thơ. Giọng điệu trào lộng nhưng hiền hòa, nhân hậu. Tiếng cười không hướng vào sự bêu rếu, mà là lời nhắc nhở của lời thầy, rằng hãy chăm học,... đừng biến sự lười biếng thành kiểu bắt chước người khác, không có giá trị gì cho ta.

Về nội dung, bài thơ đã khắc họa chân thực cảnh học trò ngủ gật - một chuyện nhỏ nhưng được Nguyễn Khuyến nâng lên thành tiếng cười giàu tính giáo dục. Qua đó, ta thấy được tấm lòng của người thầy - một người thầy tận tâm, nghiêm mà không nặng, thương mà không nuông chiều. Về nghệ thuật, bài thơ thành công do được tạo nên từ nhiều yếu tố khác nhau. Đầu tiên là ngôn ngữ thơ bình dị, giàu khẩu ngữ đời thường. Hệ thống từ láy gợi hình ảnh mạnh "gật gù gật gưỡng", "lim dim", "la liệt". Bút pháp phóng đại, so sánh, ẩn dụ kết hợp điển cố duyên dáng. Với giọng điệu hóm hỉnh, thấm đẫm phong vị dân gian, là đặc trưng của thơ trào phúng Nguyễn Khuyến. Tất cả đã tạo nên tiếng cười duyên dáng mà sâu sắc, hướng đến mục đích giáo dục nhẹ nhàng, vui tươi, đầy nhân ái.

Bài thơ "Chế học trò ngủ gật" không chỉ gây cười mà còn mang giá trị giáo dục sâu sắc. Nguyễn Khuyến bằng con mắt tinh tế và giọng điệu trào phúng đã khắc họa một bức tranh sinh động về thói lười học, đồng thời gửi gắm bài học về tinh thần học tập nghiêm túc, ham học hỏi. Bài thơ vẫn còn nguyên giá trị đến ngày nay, nhắc nhở mọi người, đặc biệt là thế hệ học sinh, cần biết trân trọng kiến thức, rèn luyện bản thân để trưởng thành và đóng góp xã hội. Qua bài thơ, ta càng thêm kính trọng một Nguyễn Khuyến tài ba - một nhà thơ lớn


Em hoàn toàn nhất trí với ý kiến trên.Tiếng cười, đặc biệt là tiếng cười trào phúng, có sức mạnh to lớn trong việc phê phán, đả kích những thói hư tật xấu, những điều chưa hay, chưa đẹp trong xã hội. Nó vạch trần cái xấu, cái tiêu cực, buộc con người phải nhìn nhận và thay đổi. Mục đích cao nhất của tiếng cười là hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn, văn minh và hạnh phúc hơn. Nhiều tác phẩm văn học, hài kịch đã sử dụng tiếng cười như một vũ khí sắc bén để đấu tranh, mang lại ý nghĩa giáo dục sâu sắc.

Em hoàn toàn nhất trí với ý kiến trên.Tiếng cười, đặc biệt là tiếng cười trào phúng, có sức mạnh to lớn trong việc phê phán, đả kích những thói hư tật xấu, những điều chưa hay, chưa đẹp trong xã hội. Nó vạch trần cái xấu, cái tiêu cực, buộc con người phải nhìn nhận và thay đổi. Mục đích cao nhất của tiếng cười là hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn, văn minh và hạnh phúc hơn. Nhiều tác phẩm văn học, hài kịch đã sử dụng tiếng cười như một vũ khí sắc bén để đấu tranh, mang lại ý nghĩa giáo dục sâu sắc.

Em hoàn toàn nhất trí với ý kiến trên.Tiếng cười, đặc biệt là tiếng cười trào phúng, có sức mạnh to lớn trong việc phê phán, đả kích những thói hư tật xấu, những điều chưa hay, chưa đẹp trong xã hội. Nó vạch trần cái xấu, cái tiêu cực, buộc con người phải nhìn nhận và thay đổi. Mục đích cao nhất của tiếng cười là hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn, văn minh và hạnh phúc hơn. Nhiều tác phẩm văn học, hài kịch đã sử dụng tiếng cười như một vũ khí sắc bén để đấu tranh, mang lại ý nghĩa giáo dục sâu sắc.

- Sắc thái nghĩa của từ trong câu trên là sắc thái trang trọng, trung lập hoặc mang tính miêu tả khách quan. + Từ "thiếu phụ" trong ngữ cảnh này được dùng để chỉ người phụ nữ đã có chồng một cách trung lập, nhằm mục đích miêu tả nhân vật trong câu chuyện. Nó không mang sắc thái coi thường hay thân mật quá mức, mà chỉ đơn thuần xác định tình trạng hôn nhân và độ tuổi của người phụ nữ, phù hợp với văn viết hoặc lời kể chuyện.

- Sắc thái nghĩa của từ trong câu trên là sắc thái trang trọng, trung lập hoặc mang tính miêu tả khách quan. + Từ "thiếu phụ" trong ngữ cảnh này được dùng để chỉ người phụ nữ đã có chồng một cách trung lập, nhằm mục đích miêu tả nhân vật trong câu chuyện. Nó không mang sắc thái coi thường hay thân mật quá mức, mà chỉ đơn thuần xác định tình trạng hôn nhân và độ tuổi của người phụ nữ, phù hợp với văn viết hoặc lời kể chuyện.

Nhân dịp kỉ niệm ngày thành lập trường, lớp chúng tôi đã tổ chức một chuyến tham quan về nguồn đầy ý nghĩa đến Đền Đô – ngôi đền thiêng liêng thờ tám vị vua đầu tiên của triều đại nhà Lý. Chuyến đi này không chỉ giúp chúng tôi hiểu thêm về lịch sử dân tộc mà còn để lại trong lòng mỗi người những kỉ niệm sâu sắc khó quên.

Chúng tôi nhận được thông báo đi tham quan cách đấy một tuần. Tuy còn nhiều thời gian nhưng các bạn cùng tôi đã chuẩn bị từ đồ ăn thức uống đến máy ảnh. Trước đó một ngày, dù đã cố tự nhủ với mình rằng đi ngủ sớm để có một sức khỏe tốt nhưng cái sự háo hức, hồi hộp trong người khiến tôi không thể nào quên được.

Sáng hôm ấy, khi xe buýt vừa lăn bánh, những câu chuyện rôm rả đã xua tan bầu không khí ngái ngủ. Ai nấy đều háo hức, mong chờ được tận mắt chiêm ngưỡng ngôi đền nổi tiếng ở Từ Sơn, Bắc Ninh. Cảnh vật buổi sáng nhưng đường phố đã nhộn nhịp. Những chú chim thi nhau hót líu lo như để chào đón chúng tôi. Ngoài ra còn là tiếng nói chuyện rôm rả của người qua đường. Những tia nắng sớm khẽ chiếu qua cửa sổ như đang nhảy nhót trên tấm kính vậy. Cảnh vật lúc ấy thơ mộng biết bao!

Dù đã được cô giáo giới thiệu qua, nhưng khi đứng trước cổng chính Đền Đô, tôi vẫn không khỏi choáng ngợp trước vẻ uy nghiêm, cổ kính của nơi đây. Bước qua cổng Ngũ Long Môn với những đường nét chạm khắc hình rồng tinh xảo, cả đoàn như lạc vào một không gian khác, yên bình và trang trọng. Trước mắt chúng tôi là hồ bán nguyệt xanh biếc với Nhà thủy đình nổi giữa hồ. Nhà thủy đình có kiến trúc chồng diêm 8 mái vô cùng độc đáo, in bóng xuống mặt nước tạo nên một bức tranh thủy mặc hữu tình. Cô hướng dẫn viên kể rằng, đây là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa, biểu diễn chèo, quan họ vào mỗi dịp lễ hội. Đi sâu vào bên trong, chúng tôi được chiêm ngưỡng tấm bia đá khổng lồ mang tên “Cổ Pháp Điện Tạo Bi”, kể lại công lao to lớn của các vị vua nhà Lý. Chúng tôi còn được tận mắt nhìn thấy cuốn thư bằng gốm Bát Tràng khắc bài “Chiếu dời đô” của vua Lý Thái Tổ. Từng nét chữ Hán trên đó dường như vẫn còn vẹn nguyên giá trị lịch sử, thôi thúc chúng tôi tìm hiểu và trân trọng hơn nữa những di sản mà cha ông để lại. Sau khi tham quan các công trình kiến trúc chính, chúng tôi dừng lại trước chính điện để thắp nén hương tưởng nhớ. Nhìn lên di ảnh của tám vị vua oai hùng, trong lòng tôi trào dâng một niềm tự hào khôn tả về một triều đại đã tạo nên những trang sử vẻ vang cho dân tộc.

Không chỉ được tham quan các di tích mà chúng tôi còn được tham gia các trò chơi dân gian. Chúng tôi được nhìn các cô các chú chơi trò chơi trông thật thích mắt.

Khi ra về thời gian cũng đã quá chiều. Dù đã thấm mệt sau một ngày tham quan với nhiều trải nghiệm nhưng các bạn vẫn không ngừng bàn tán sôi nổi về chuyến đi vừa rồi. Ở phía cuối xe, một số bạn mở máy ảnh để khoe nhau những tấm ảnh vừa chụp tại nơi ấy. Đó là một kỉ niệm đẹp mà tôi sẽ nhớ mãi.

Chuyến đi đến Đền Đô tuy ngắn ngủi nhưng đã mở ra trong tôi nhiều điều mới mẻ. Không chỉ là những kiến thức lịch sử được học qua sách vở, mà còn là cảm nhận sâu sắc về lòng biết ơn, sự trân trọng đối với quá khứ. Đây chắc chắn là một kỉ niệm đẹp mà tôi sẽ mãi mãi khắc ghi trong tuổi học trò của mình.

Câu 1 :

- Bài thơ "Cảnh ngày hè" được viết theo thể thơ thất ngôn xen lục ngôn

Câu 2 :

- Hình ảnh được nhắc đến qua 4 câu thơ đầu là cây hòe, hoa sen và tiếng ve sầu

Câu 3 :

- BPTT đảo ngữ :

+ Đảo vị ngữ "lao xao" lên trước chủ ngữ "chợ cá làng ngư phủ".

+ Đảo vị ngữ "dắng dỏi" lên trước chủ ngữ "cầm ve lầu tịch dương".

- Tác dụng : Giúp nhấn mạnh các âm thanh đặc trưng, tạo ấn tượng về sự sống động của cảnh vật và làm câu thơ thêm giàu sức gợi.

Câu 4 :

- Trong hai câu thơ cuối, Nguyễn Trãi đã bộc lộ tình cảm yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống và khao khát một cuộc sống yêu bình, bình thản, ấm no cho nhân dân.

Câu 5 :

- Chủ đề của bài thơ là tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống và tấm lòng thương dân thương nước của thi nhân Nguyễn Trãi.

- Em xác định như vậy vì qua các câu thơ của bài "Cảnh ngày hè" do Nguyễn Trãi viết, em nhận thấy được một tình cảm yêu thiên nhiên mãnh liệt qua các câu thơ do thi sĩ viết. Ngoài ra, qua hai câu thơ cuối, tác giả có mong muốn nhân dân có một cuộc sống ấm no, hạnh phúc và trọn vẹn.

Câu 6 :

Từ niềm vui mà Nguyễn Trãi thấy được trong thiên nhiên ngày hè, em nhận thấy rằng việc luôn giữ cho bản thân mình sự lạc quan, yêu đời là quan trọng. Với mọi điều tiêu cực, mọi khó khăn thử thách, mọi cạm bẫy ngoài xã hội, thay vì chúng ta bi quan, bản thân ta có thể nhìn nhận điều ấy một cách tích cực hơn, với một thái độ vui vẻ thay vì mệt mỏi, bực dọc để ta thêm đau đầu. Khi có tinh thần lạc quan, tích cực, mọi điều dường như sẽ có cách xử lí dễ dàng hơn vì khi lạc quan, ta mới đủ bình tĩnh để suy nghĩ đến cách giải quyết. Việc sống lạc quan sẽ khiến ta không bị mệt mỏi hay căng thẳng khi phải suy nghĩ quá sâu vì một vấn đề nào đó. Ngoài ra, việc sống lạc quan còn mang đến cho ta những mối quan hệ tốt. Thay vì suốt ngày cau có do căng thẳng, mệt mỏi, chúng ta sẽ đem đến cho mọi người một nguồn năng lượng tích cực, có thể giúp nhiều người thoát ra khỏi cái bóng tối đáng sợ do cuộc sống tạo nên. Tóm lại, việc giữ một tinh thần lạc quan sẽ giúp ta có được nhiều lợi ích tốt. Vậy nên chẳng có điều gì mà ta nên sống bi quan khi chúng ta có thể tích cực trước mọi thử thách, khó khăn mà cần ta vượt qua



a) + Vì tứ giác ABCD là hình bình hành (gt)

Suy ra AB // CD ; AB=CD (t/c)

+ Ta có AE =BE = 1/2AB

FD = FC = 1/2DC

mà AB = CD(cmt)

Suy ra AE = BE = FD = FC

+ Xét tứ giác AEFD có:

AE // DF (Do AB // CD)

AE = DF (cmt)

Suy ra tứ giác AEFD là hình bình hành (dhnb..) (đpcm)

+ Xét tứ giác AECF có:

AE // CF (Do AB // CD)

AE = CF (cmt)

Suy ra tứ giác AECF là hình bình hành (dhnb..) (đpcm)

b) + Xét hình bình hành AEFD có:

EF = AD (t/c) (đpcm)

+ Xét hình bình hành AECF có:

AF = EC (t/c) (đpcm)