Ngô Khánh Vân
Giới thiệu về bản thân
Trần Tế Xương là nhà thơ trào phúng xuất sắc của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX. Thơ ông phản ánh chân thực xã hội đương thời bằng giọng điệu châm biếm, đả kích sâu cay nhưng giàu giá trị hiện thực và nhân đạo. Bài thơ “Giễu ông đồ Bốn ở phố Hàng Sắt” là một tác phẩm tiêu biểu, thể hiện thái độ phê phán gay gắt của nhà thơ đối với những kẻ học giả, khoe khoang chữ nghĩa trong bối cảnh đạo học suy tàn. Trong bài thơ, Trần Tế Xương tập trung khắc họa hình ảnh ông đồ Bốn – một nhân vật tiêu biểu cho lớp trí thức nửa mùa, hám danh hão. Ông đồ xuất hiện ở phố Hàng Sắt, nơi buôn bán ồn ào, xô bồ, cho thấy sự lệch lạc ngay từ không gian hành nghề. Đáng lẽ chữ nghĩa phải gắn với sự thanh cao, với việc dạy học và tu dưỡng nhân cách, thì ở đây lại bị đem ra phô trương giữa chốn thị thành để mua danh, cầu lợi. Qua đó, tác giả đã khéo léo phơi bày sự lố bịch và giả tạo của ông đồ Bốn. Không chỉ giễu cợt ngoại hình hay hành động, bài thơ còn đả kích trực diện bản chất rỗng tuếch của nhân vật. Ông đồ tuy mang danh là người có chữ nhưng thực chất học vấn kém cỏi, tài năng không có, chỉ biết mượn vỏ bọc “ông đồ” để che đậy sự bất tài. Cách giễu nhại của Tú Xương vừa sắc sảo vừa thâm thúy, khiến người đọc bật cười nhưng cũng không khỏi chua xót. Tiếng cười ấy không đơn thuần để mua vui mà nhằm vạch trần thói học giả, sính danh đang lan tràn trong xã hội. Qua hình ảnh ông đồ Bốn, Trần Tế Xương còn phản ánh một hiện thực xã hội rộng lớn hơn: sự suy thoái của nền Nho học và chế độ khoa cử phong kiến cuối mùa. Khi khoa cử không còn giữ được giá trị thực chất, nhiều kẻ đã lợi dụng danh nghĩa chữ nghĩa để mưu cầu lợi ích cá nhân. Bài thơ vì thế không chỉ là lời giễu một cá nhân mà còn là tiếng nói phê phán cả một tầng lớp trí thức xuống cấp, đánh mất phẩm chất và trách nhiệm với xã hội. Đằng sau giọng thơ châm biếm gay gắt là nỗi đau đời, nỗi buồn thời thế của chính tác giả. Tú Xương từng là người học rộng, tài cao nhưng lận đận khoa cử, nên ông càng thấm thía sự bất công và mục nát của xã hội đương thời. Bởi vậy, tiếng cười trong thơ ông vừa cay đắng, vừa thể hiện thái độ yêu ghét rõ ràng: ghét cái giả, cái xấu; trân trọng giá trị chân chính của tri thức và nhân cách con người. Bài thơ Giễu ông đồ Bốn ở phố Hàng Sắt đã vạch trần bộ mặt lố bịch của những kẻ học giả, khoe khoang chữ nghĩa, đồng thời phản ánh sự suy tàn của đạo học phong kiến cuối thế kỉ XIX. Thành công của tác phẩm nằm ở nghệ thuật trào phúng sắc sảo, giọng điệu mỉa mai thâm thúy, ngôn ngữ giàu tính khẩu ngữ và hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Qua bài thơ, Trần Tế Xương không chỉ để lại tiếng cười châm biếm mà còn gửi gắm một thông điệp nghiêm túc: tri thức chỉ có giá trị khi gắn liền với tài năng, đạo đức và trách nhiệm xã hội. Chính điều đó đã làm nên sức sống lâu bền cho thơ trào phúng Tú Xương trong nền văn học dân tộc.
Là một học sinh, em luôn ý thức thể hiện tinh thần yêu nước từ những việc làm nhỏ bé hằng ngày. Em chăm chỉ học tập, rèn luyện đạo đức để trở thành người có ích cho xã hội và đất nước. Em tích cực tham gia các hoạt động tri ân anh hùng liệt sĩ, giữ gìn vệ sinh môi trường và bảo vệ của công cộng. Trong tương lai, em sẽ tiếp tục học tập tốt hơn nữa, tuân thủ pháp luật và sẵn sàng cống hiến sức mình cho Tổ quốc khi đất nước cần. Em tin rằng lòng yêu nước chân chính bắt đầu từ trách nhiệm của mỗi cá nhân.
Bài thơ Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu đã thể hiện nỗi đau xót, căm phẫn của tác giả trước cảnh đất nước bị xâm lược và nhân dân rơi vào cảnh lầm than. Qua hình ảnh người dân phải bỏ làng quê, nhà cửa để chạy giặc, nhà thơ lên án tội ác tàn bạo của quân xâm lược, đồng thời bày tỏ lòng thương dân sâu sắc. Bài thơ còn thể hiện tinh thần yêu nước tha thiết và trách nhiệm của người trí thức trước vận mệnh dân tộc. Qua đó, tác giả gửi gắm thông điệp rằng chiến tranh xâm lược chỉ mang đến đau khổ, mất mát cho nhân dân và cần được lên án mạnh mẽ.
Ý kiến cho rằng “Tiếng cười cũng có sức mạnh của một vũ khí chống lại cái chưa hay, chưa đẹp” là hoàn toàn đúng. Tiếng cười giúp con người phê phán những thói hư tật xấu một cách nhẹ nhàng mà sâu sắc, khiến người bị phê phán dễ nhận ra sai lầm của mình. Trong văn học và đời sống, tiếng cười châm biếm, hài hước góp phần lên án cái xấu, cái lạc hậu. Đồng thời, nó còn mang lại niềm vui, tinh thần lạc quan cho con người. Vì vậy, tiếng cười không chỉ để giải trí mà còn có giá trị giáo dục và nhân văn sâu sắc.
Tú Xương là một nhà thơ lớn, sinh vào thời kì đau thương, khó khăn nhất của đất nước khi dân ta đang một lòng sục sôi đánh giặc. Trước tình cảnh nước mất nhà tan, những rối ren của thời cuộc, ông đã viết lên nhiều vần thơ sâu sắc mà chua xót phản ánh thực trạng đó, một trong những tác phẩm tiêu biểu phải kể đến bài thơ “ Đất Vị Hoàng”. Bài thơ là tinh thần, lẽ sống của con người đồng thời thể hiện thái độ châm biếm các thói hư tật xấu trong xã hội lúc bấy giờ. Trước hết, Đất Vị Hoàng được viết ở thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật, là bài thơ thể hiện niềm xót xa trước vận mệnh dân tộc. Vị Hoàng là nơi sinh ra của Tú Xương, – một vùng quê đầy bình yên có những thứ đặc sản nổi tiếng. Ngày giặc đến nhà, vùng quê bình yên đó trở nên xơ xác, tiêu điều. Là một người nặng tình với quê hương đất nước, Tú Xương đau đớn cho quê nhà, xót thương trước vận mệnh đất nước bị đảo lộn. Những việc xấu, “ đổi trắng thay đen” cứ thế bày ra trước mắt, nỗi đau chồng chất nỗi đau. Từ đó bài thơ “Đất Vị Hoàng” ra đời để tố cáo cái xã hội lúc bấy giờ. Mở đầu bài thơ, nhà thơ đi thẳng vào vấn đề: "Có đất nào như đất ấy không? Phố phường tiếp giáp với bờ sông" Câu hỏi tu từ ngay phần mở đầu, “có đất nào như đất ấy không?” gợi cho ta thật nhiều suy nghĩ. Mảnh đất của sự phồn vinh, bình yên, tuyệt đẹp với những bờ sông trải dài nay còn đâu. Giọng thơ trở nên thật chua chát trước cảnh nơi chôn rau cắt rốn của mình ngày càng đổi thay, các câu chuyện ngày càng đau lòng. Phồn vinh thì cũng không còn là của ta nữa, mà trở thành một nơi “ăn chơi sa đọa”, chốn để quân Pháp chơi bời. Còn gì đớn đau thay khi một quê hương phồn vinh hơn nhưng lại chẳng phải của chúng ta. Và cũng thật chua xót biết bao khi đó là nỗi đau không chỉ ở quê hương Tú Xương mà đó còn chính là nỗi đau của toàn dân tộc – một vùng trù phú rộng lớn trở nên tiêu điều xơ xác, một vùng chỉ có xác “phồn vinh” nhưng lại thiếu đi phần hồn. Đất nước bị chiếm đóng, phồn vinh kéo theo những hệ lụy, những đạo lý truyền thống của chúng ta bị đảo lộn. "Nhà kia lỗi phép con khinh bố Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng" Giặc chiếm đất, chiếm nhà, chiếm ruộng,… của ta, phố phường cứ thế mọc lên và chúng càng vơ vét, càng bóc lột ta để làm giàu. Những đạo lý truyền thống chữ “ hiếu” luôn đặt lên hàng đầu của ta từ ngàn đời nay còn đâu khi “ con khinh bố”. Bố mẹ là người chăm lo cho ta, vậy lý do nào đã khiến cho tình cảm thiêng liêng ấy bị coi thường. Đó còn là “mụ vợ chanh chua”, người con gái nước Nam dịu dàng, nữ tính đi đâu mất rồi, thay vào đó lại là “ mụ vợ chửi chồng”. Lí do gì đã khiến mọi trật tự, mọi đạo lí truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta bị đảo lộn, bị xáo trộn như vậy? Phải chăng đồng tiền đã làm cho con người ta mờ mắt, chỉ ham đến vinh hoa phú quý mà bỏ quên những điều xưa cũ, những đạo lí ân nghĩa thủy chung, những chuẩn mực đạo đức của ta. Ta thật sợ, ghê tởm cái xã hội nhem nhuốc, dơ bẩn lúc bấy giờ. Một gia đình không tốt, “hỏng” từ vợ - chồng đến con cái, vậy xã hội làm sao tốt đẹp đây? "Keo cú người đâu như cứt sắt Tham lam chuyện thở rặt hơi đồng" Hai câu thơ sau là cảnh vẽ về con người đối nhau, một tứ thơ đầy hoàn thiện nhưng cũng đầy chua xót. Những kẻ tham lam, keo cú trên đất nước ta nhiều vô kể. Họ bần tiện, ghê gớm đến nỗi “như cứt sắt”- một chất thải ra từ đất nung không còn thể đẽo gặm gì nữa. Đó còn là những con người tham lam, vơ vét cho bản thân mà quên đi cái giá trị của con người, mở miệng ra là thấy nói chuyện tiền, lấy tiền làm chuẩn mực của đạo đức, đánh giá một con người. Thối tha thay cái xã hội lúc bấy giờ, đớn đau thay cho những con người bị tha hóa. Nhà thơ Tú Xương thật tài tình khi vận dụng nghệ thuật so sánh kết hợp với biện pháp đảo ngữ làm cho các câu thơ trở nên có giá trị thẩm mĩ cao. Giọng thơ trở nên dữ dội, khinh bỉ hơn bao giờ hết. Đó là một bản cáo trạng mà nhà thơ viết lên để tố cáo những kẻ tham lam, vì tiền mà đánh mất đạo đức con người. "Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh Có đất nào như đất ấy không?" Tú Xương kịch liệt lên án, tố cáo những thói hư tật xấu của con người lúc bấy giờ, hiện thực thối nát, cái xấu, cái ác, trắng đen lẫn lộn… Câu hỏi tu từ ở cuối đoạn như một tiếng khóc tỉ tê, thương thay cho vận mệnh đất nước. Mở đầu và kết thúc đều là câu hỏi “Có đất nào như đất ấy không?” vừa xót xa, đay nghiến cái xã hội thối nát lúc bấy giờ. Nói tóm lại, bằng nghệ thuật châm biếm, câu hỏi tu từ đầu cuối tương ứng, bài thơ Đất Vị Hoàng đã vạch trần được bộ mặt thật của xã hội nửa phong kiến đồng thời qua đây nhà thơ Tú Xương cũng bày tỏ thái độ tố cáo, đả kích sâu cay với những con người vì đồng tiền mà đánh mất giá trị bản thân, giá trị đạo đức xã hội. Đó là nỗi đau của người trong cuộc, đớn đau trước vận mệnh đất nước.
Trong ngữ cảnh của câu văn, "thiếu phụ" được sử dụng như một từ Hán Việt mang sắc thái trang trọng, văn chương. Nó dùng để chỉ người đàn bà đã có chồng, còn trẻ, nhằm tạo sự tôn trọng và làm cho câu văn trở nên lịch sự, phù hợp với văn viết hoặc lời kể trang nhã.