Lê Kiều Anh
Giới thiệu về bản thân
Trong dòng chảy của văn học trung đại Việt Nam, Trần Tế Xương nổi lên như một hiện tượng độc đáo với phong cách thơ trào phúng sắc sảo nhưng cũng đầy tình tứ. Trong số những tác phẩm của ông, "Thương vợ" là bài thơ cảm động nhất, nơi chất cười trào phúng hòa quyện với nỗi đau nhân thế, tạo nên một bức chân dung vừa xót xa vừa đáng kính về người vợ.
Mở đầu bài thơ, Tú Xương không ngần ngại phơi bày hoàn cảnh gia đình và sự tần tảo của bà Tú:
"Quanh năm buôn bán ở mom sông, Nuôi đủ năm con với một chồng."
Câu thơ cho thấy một sự tính toán kỳ lạ: "năm con" đi kèm với "một chồng". Cách gộp chung chồng với con vào cùng một gánh nặng kinh tế cho thấy vị thế của ông Tú lúc bấy giờ – một trí thức nho học nhưng "dài lưng tốn vải", mọi sinh hoạt đều trông chờ vào đôi vai gầy của vợ. Cái cười ở đây là cái cười tự giễu, ông tự xếp mình ngang hàng với những đứa trẻ cần được nuôi dưỡng.
Sự trào phúng của Tú Xương đạt đến độ sâu sắc nhất ở hai câu kết:
"Cha mẹ thói đời ăn ở bạc, Có chồng hờ hững cũng như không."
Thông thường, thơ trào phúng dùng để đả kích kẻ thù hoặc thói hư tật xấu của người khác. Nhưng ở đây, Tú Xương lại dùng nó để "chửi" chính mình. Ông chửi cái "thói đời" lỗi thời đã biến ông thành một kẻ vô dụng, chỉ biết hưởng thụ sự hy sinh của vợ. Câu chửi "có chồng hờ hững cũng như không" vang lên đầy cay nghiệt nhưng lại chứa đựng một tấm lòng yêu thương vợ sâu sắc. Chỉ có người đàn ông có lòng tự trọng cao và tình yêu thương vô bờ mới dám thừa nhận sự khiếm khuyết của bản thân một cách thẳng thắn như thế.
Về mặt nghệ thuật, bài thơ sử dụng ngôn ngữ bình dân, giản dị nhưng vô cùng điêu luyện. Các từ láy "lặn lội", "eo sèo" kết hợp với hình ảnh "thân cò" gợi lên nỗi vất vả đơn độc của bà Tú. Thủ pháp đối lập giữa sức lực nhỏ bé của người phụ nữ với gánh nặng gia đình càng làm nổi bật giá trị nhân văn của tác phẩm.
Tóm lại, "Thương vợ" không chỉ là một bài thơ trào phúng tự trào sắc sảo mà còn là một bài ca cảm động về tình nghĩa vợ chồng. Qua bài thơ, ta thấy được một Tú Xương không chỉ có tài năng mà còn có một nhân cách cao đẹp, biết thấu hiểu và trân trọng những hy sinh thầm lặng của người phụ nữ.
Từ “thiếu phụ” trong câu mang sắc thái trang trọng, gợi hình ảnh một người phụ nữ còn trẻ, đã có gia đình và con nhỏ. Cách dùng từ này thể hiện sự trân trọng của người viết, đồng thời làm nổi bật vẻ dịu dàng, đằm thắm của nhân vật.
Em đồng ý với ý kiến cho rằng tiếng cười có sức mạnh như một thứ vũ khí chống lại cái chưa hay, chưa đẹp. Một nụ cười chân thành có thể xóa tan căng thẳng, hóa giải buồn bực và kéo con người lại gần nhau hơn. Trong cuộc sống, tiếng cười giúp chúng ta nhìn mọi việc nhẹ nhàng, tích cực hơn, từ đó vượt qua khó khăn dễ dàng hơn. Tiếng cười còn thể hiện sự lạc quan và lòng nhân ái giữa con người với con người. Vì vậy, biết mỉm cười đúng lúc sẽ góp phần làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp và ý nghĩa hơn.
a) ABCD là hình bình hành nên AD = BC và AD // BC.
Mà E là trung điểm của AD nên AE = ED;
F là trung điểm của BC nên BF = FC.
Suy ra DE = BF.
Xét tứ giác EBFD có DE // BF (do AD // BC) và DE = BF nên là hình bình hành (dấu hiệu nhận biết).
b) Ta có O là giao điểm của hai đường chéo của hình bình hành ABCD nên O là trung điểm của BD.
Do EBFD là hình bình hành nên hai đường chéo BD và EF cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường.
Mà O là trung điểm của BD nên O là trung điểm của EF.
Vậy ba điểm E, O, F thẳng hàng.
Xét tam giác \(A B C\) có hai đường trung tuyến \(B M\) và \(C N\) cắt nhau tại \(G\) (giả thiết) nên \(G\) là trọng tâm của \(\Delta A B C\).
Suy ra \(G M = \frac{G B}{2}\); \(G N = \frac{G C}{2}\) (tính chất trọng tâm của tam giác) (1)
Mà \(P\) là trung điểm của \(G B\) (giả thiết) nên \(G P = P B = \frac{G B}{2}\) (2)
\(Q\) là trung điểm của \(G C\) (giả thiết) nên \(G Q = Q C = \frac{G C}{2}\) (3)
Từ (1), (2) và (3) suy ra \(G M = G P\) và \(G N = G Q\).
Xét tứ giác \(P Q M N\) có: \(G M = G P\) và \(G N = G Q\) (chứng minh trên)
Do đó tứ giác \(P Q M N\) có hai đường chéo \(M P\)và \(N Q\) cắt nhau tại trung điểm \(G\) của mỗi đường nên là hình bình hành.
a) Vì ABCD là hình bình hành nên AB = CD; AB // CD.
Mà hai điểm B, C lần lượt là trung điểm AE, DF.
Suy ra AE = DF; AB = BE = CD = CF.
Tứ giác AEFD có AE // DF (vì AB // CD); AE = DF (chứng minh trên).
Do đó tứ giác AEFD là hình bình hành.
Tứ giác ABFC có AB // CF (vì AB // CD); AB = CF (chứng minh trên).
Do đó tứ giác ABFC là hình bình hành.
b) Vì hình bình hành AEFD có hai đường chéo AF và DE nên chúng cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường, ta gọi giao điểm đó là O.
Hình bình hành AEFD có hai đường chéo AF và BC.
Mà O là trung điểm của AF.
Suy ra O cũng là trung điểm của BC.
Vậy các trung điểm của ba đoạn thẳng AF, DE, BC trùng nhau.
a) Do \(A B C D\) là hình bình hành nên \(A D\) // \(B C\)và \(A D = B C\).
Do \(A D\) // \(B C\) nên \(\hat{A D B} \&\text{nbsp}; = \hat{C B D}\) (so le trong)
Xét \(\Delta A D H\) và \(\Delta C B K\) có:
\(\hat{A H D} \&\text{nbsp}; = \hat{C K B} = 9 0^{\circ}\);
\(A D = B C\) (chứng minh trên);
\(\hat{A D H} \&\text{nbsp}; = \hat{C B K}\) (do \(\hat{A D B} \&\text{nbsp}; = \hat{C B D}\)).
Do đó \(\Delta \&\text{nbsp}; A D H = \Delta \&\text{nbsp}; C B K\) (cạnh huyền – góc nhọn).
Suy ra \(A H = C K\) (hai cạnh tương ứng).
Ta có \(A H \bot \&\text{nbsp}; D B\) và \(C K \bot \&\text{nbsp}; D B\) nên \(A H\) // \(C K\).
Tứ giác \(A H C K\) có \(A H\) // \(C K\) và \(A H = C K\) nên \(A H C K\) là hình bình hành (dấu hiệu nhận biết).
b) Do \(A H C K\) là hình bình hành (câu a) nên hai đường chéo \(A C\) và \(H K\) cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường.
Mà \(I\) là trung điểm của \(H K\) (giả thiết) nên \(I\) là trung điểm của \(A C\).
Do \(A B C D\) là hình bình hành nên hai đường chéo \(A C\) và \(B D\) cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường.
Mà \(I\) là trung điểm của \(A C\) nên \(I\) là trung điểm của \(B D\), hay \(I B = I D\).
Vì \(A B C D\) là hình bình hành nên ta có:
+ Hai đường chéo \(A C\) và \(B D\) cắt nhau tại \(O\) nên \(O A = O C\), \(O B = O D\).
+ \(A B\) // \(C D\) nên \(A M\) // \(C N\) suy ra \(\hat{O A M} = \hat{O C N}\) (hai góc so le trong).
Xét \(\Delta O A M\) và \(\Delta \&\text{nbsp}; O C N\) có:
$\widehat{O A M} = \widehat{O C N} (chứng minh trên)
\(O A = O C\) (chứng minh trên)
\(\hat{A O M} \&\text{nbsp}; =\)\widehat{C O N} (hai góc đối đỉnh)
Do đó \(\Delta \&\text{nbsp}; O A M = \Delta \&\text{nbsp}; O C N\) (g.c.g).
Suy ra \(A M = C N\) (hai cạnh tương ứng).
Mặt khác, \(A B = C D\) (chứng minh trên);
\(A B = A M + B M\); \(C D = C N + D N\).
Suy ra \(B M = D N\).
Xét tứ giác \(M B N D\) có:
\(B M\) // \(D N\) (vì \(A B\) // \(C D\))
\(B M = D N\) (chứng minh trên)
Do đó, tứ giác \(M B N D\) là hình bình hành.
a) Vì ABCD là hình bình hành nên AB = CD, AB // CD.
Mà E, F lần lượt là trung điểm của AB, CD nên AE = BE = \(\frac{1}{2}\)AB, CF = DF = \(\frac{1}{2}\)CD
Do đó AE = BE = CF = DF.
Xét tứ giác AEFD có:
AE // DF (vì AB // CD);
AE = DF (chứng minh trên)
Do đó tứ giác AEFD là hình bình hành.
Xét tứ giác AECF có:
AE // CF (vì AB // CD);
AE = CF (chứng minh trên)
Do đó tứ giác AECF là hình bình hành.
Vậy hai tứ giác AEFD, AECF là những hình bình hành.
b) Vì tứ giác AEFD là hình bình hành nên EF = AD.
Vì tứ giác AECF là hình bình hành nên AF = EC.
Vậy EF = AD, AF = EC.