Nguyễn Ngọc Mai
Giới thiệu về bản thân
\(V=x(x+1)(x-1)\) 2. Rút gọn biểu thức Sử dụng hằng đẳng thức hiệu hai bình phương \((a - b)(a + b) = a^2 - b^2\), ta có thể rút gọn tích của hai thừa số cuối:
\((x+1)(x-1)=x^{2}-1^{2}=x^{2}-1\)Khi đó, biểu thức thể tích trở thành:
\(V=x(x^{2}-1)=x^{3}-x\) 3. Tính giá trị tại \(x = 4\) Thay giá trị \(x = 4\) vào biểu thức đã rút gọn để tính thể tích cụ thể:
\(V=4^{3}-4\)\(V=64-4=60\)
\(\frac{2x^{4}}{x^{2}}=2x^{2}\)Nhân \(2x^{2}\) với đa thức \(B\):
\(2x^{2}\cdot (x^{2}-2)=2x^{4}-4x^{2}\)Lấy \(A\) trừ đi tích vừa tìm được:
\((2x^{4}-3x^{3}-3x^{2}+6x-2)-(2x^{4}-4x^{2})=-3x^{3}+x^{2}+6x-2\) 2. Chia hạng tử bậc cao nhất của dư thứ nhất Chia hạng tử bậc cao nhất của phần dư mới (\(-3x^{3}\)) cho \(x^{2}\):
\(\frac{-3x^{3}}{x^{2}}=-3x\)Nhân \(-3x\) với đa thức \(B\):
\(-3x\cdot (x^{2}-2)=-3x^{3}+6x\)Lấy dư thứ nhất trừ đi tích này:
\((-3x^{3}+x^{2}+6x-2)-(-3x^{3}+6x)=x^{2}-2\) 3. Chia hạng tử bậc cao nhất của dư thứ hai Chia hạng tử bậc cao nhất của phần dư mới (\(x^{2}\)) cho \(x^{2}\):
\(\frac{x^{2}}{x^{2}}=1\)Nhân \(1\) với đa thức \(B\):
\(1\cdot (x^{2}-2)=x^{2}-2\)Lấy dư thứ hai trừ đi tích này:
\((x^{2}-2)-(x^{2}-2)=0\) Vì số dư cuối cùng bằng \(0\), đây là một phép chia hết.
- Nhóm thứ nhất: \(5x(4x^2 - 2x + 1) = 5x \cdot 4x^2 - 5x \cdot 2x + 5x \cdot 1 = 20x^3 - 10x^2 + 5x\)
- Nhóm thứ hai: \(-2x(10x^2 - 5x + 2) = -2x \cdot 10x^2 - (-2x) \cdot 5x - 2x \cdot 2 = -20x^3 + 10x^2 - 4x\)
\(20x^{3}-10x^{2}+5x-20x^{3}+10x^{2}-4x=-36\) Nhóm các hạng tử đồng dạng:
- Hạng tử bậc 3: \((20x^3 - 20x^3) = 0\)
- Hạng tử bậc 2: \((-10x^2 + 10x^2) = 0\)
- Hạng tử bậc 1: \((5x - 4x) = x\)
\(x=-36\) 3. Kiểm tra lại kết quả Thay \(x = -36\) vào vế trái (VT):
- \(VT = 5(-36)[4(-36)^2 - 2(-36) + 1] - 2(-36)[10(-36)^2 - 5(-36) + 2]\)
- \(VT = x = -36\) (đúng với vế phải).
\(P(x)+Q(x)=(x^{4}-5x^{3}+4x-5)+(-x^{4}+3x^{2}+2x+1)\)
- Bậc 4: \(x^4 + (-x^4) = 0\)
- Bậc 3: \(-5x^{3}\)
- Bậc 2: \(3x^{2}\)
- Bậc 1: \(4x + 2x = 6x\)
- Hệ số tự do: \(-5 + 1 = -4\)
Vậy: \(P(x) + Q(x) = -5x^3 + 3x^2 + 6x - 4\) 2) Từ đẳng thức \(P(x) = R(x) + Q(x)\), ta suy ra:
\(R(x)=P(x)-Q(x)\)
\(R(x)=(x^{4}-5x^{3}+4x-5)-(-x^{4}+3x^{2}+2x+1)\)\(R(x)=x^{4}-5x^{3}+4x-5+x^{4}-3x^{2}-2x-1\)
\(x^4 + x^4 = 2x^4\)\(-5x^{ \(-3x^{2}\)
- Bậc 1: \(4x - 2x = 2x\)
- Hệ số tự do: \(-5 - 1 = -6\)
Vậy: \(R(x) = 2x^4 - 5x^3 - 3x^2 + 2x - 6\)
Vẻ Đẹp Thanh Bình Trong Chiều Thu Yên Ả
Bài thơ “Chiều đồng nội” của Nguyễn Lãm Thắng như một tấm vé đưa tôi quay về tuổi thơ, về những buổi chiều quê êm đềm không vướng bận. Đọc từng câu thơ, tôi cảm thấy lòng mình như được gột rửa bởi không khí trong lành, tĩnh lặng mà tác giả đã vẽ ra.
Điều đầu tiên đọng lại trong tâm trí tôi là màu sắc và âm thanh của mùa thu. Đó là những “giọt thu trong veo” được rắc lên không gian, khiến mọi thứ đều trở nên nhẹ nhàng, thanh thoát. Tôi hình dung ra những cánh đồng lúa đang thì con gái, nhấp nhô như sóng biển dưới ánh nắng vàng dịu: “Nhấp nhô đều sóng lúa”. Cảnh vật không hề vội vã; đàn trâu thong thả bước về chuồng, cánh cò lững lờ trôi, tạo nên một nhịp điệu chậm rãi, thư thái, hoàn toàn trái ngược với sự hối hả của cuộc sống thành thị hiện nay.
Tác giả đã rất khéo léo khi dùng hình ảnh thiên nhiên để nói lên sự dịu dàng của cảnh vật. Cả mùa thu hiện ra như “tay mềm / Chạm lên từng thảm lụa”. Cái cảm giác mềm mại, êm ái ấy khiến tôi muốn được nằm dài trên thảm cỏ thơm, hít hà hương đất trời.
Và rồi, hơi ấm quen thuộc nhất đã xuất hiện: “Bếp nhà ai toả khói / Gọi trăng thu xuống gần”. Khói bếp chiều không hề làm vẩn đục không gian, mà ngược lại, nó trở thành tín hiệu thân thương nhất, như một lời mời gọi thi vị, thân mật giữa con người và thiên nhiên. Chính khoảnh khắc đó đã nói lên tất cả: chiều đồng nội là nơi của sự bình yên, nơi con người cảm thấy được chở che và kết nối.
“Chiều đồng nội” dạy tôi rằng, vẻ đẹp lớn nhất đôi khi lại nằm ở những điều đơn giản, mộc mạc nhất. Đó là vẻ đẹp của sự yên bình của tình yêu thương thầm lặng mà tác giả dành cho quê hương. Bài thơ là một lời nhắc nhở dịu dàng: dù cuộc sống có xô bồ đến đâu, hãy nhớ giữ lại trong tim mình một khoảng trời thanh bình như chiều thu ấy.
Câu 1. Thể thơ:Văn bản trên được viết theo thể thơ thơ tự do (hoặc thơ 5 chữ/thơ mới, nhưng thiên về nhịp điệu linh hoạt của thơ tự do với số chữ trong câu không cố định và cách gieo vần ngắt nhịp uyển chuyển).
Câu 2. Ba chi tiết miêu tả khung cảnh thiên nhiên:Ba chi tiết miêu tả khung cảnh thiên nhiên là:
1.Những giọt thu trong veo rắc ngang qua đồng nội
2. Cỏ thơm cùng hoa dại.
3.Cánh đồng chiều nhấp nhô đều sóng lúa. (Hoặc: Cánh chim bay xuống chiều, Đàn trâu về chậm rãi, Bếp nhà ai toả khói…)
Câu 3. Từ láy và tác dụng (Hai khổ thơ cuối):• Từ láy: Nhấp nhô (trong câu “Nhấp nhô đều sóng lúa”).
• Tác dụng: Từ láy “nhấp nhô” gợi tả hình ảnh sóng lúa lên xuống một cách nhịp nhàng, mềm mại, liên tục và sống động dưới ánh chiều tà. Nó góp phần làm nổi bật sự êm đềm, nên thơ và sức sống hài hòa của không gian đồng nội mùa thu.
Câu 4. Mùa và nhận xét về bức tranh thiên nhiên:
• Mùa: Bài thơ viết về khung cảnh chiều đồng nội vào mùa thu (Thể hiện qua các chi tiết: “giọt thu trong veo”, “Buổi chiều thu mướt xanh”, “trăng thu”).
• Nhận xét bức tranh thiên nhiên: Bức tranh thiên nhiên được miêu tả là một bức tranh yên bình, thơ mộng, trữ tình và tràn đầy sức sống. Cảnh vật mang vẻ đẹp trong trẻo, dịu dàng, ấm áp, hòa quyện giữa thiên nhiên và sự sống con người (khói bếp).
Câu 5. Biện pháp tu từ và tác dụng • Câu thơ: “Gọi trăng thu
xuống gần.”
•Biện pháp tu từ: Nhân hóa. (Gán hành động “gọi” của con người cho hình ảnh khói bếp).
•Tác dụng: Biện pháp nhân hóa làm cho hình ảnh khói bếp trở nên gần gũi, thân thương và có hồn hơn. Nó không chỉ miêu tả ánh sáng của bếp lửa lan tỏa trong không gian mà còn thể hiện sự giao cảm, ước mong con người muốn được gần gũi, hòa nhập với vẻ đẹp dịu dàng của vầng trăng mùa thu, tạo nên không khí ấm cúng, thân mật.
Câu 6. Kỉ niệm và thông điệp:
Khi đọc bài thơ, em thường nhớ về những buổi chiều sau giờ học cùng lũ bạn chăn trâu thả diều trên triền đê quê hương. Khung cảnh cánh đồng vàng óng ánh, tiếng ve kêu ran và làn gió mát rượi mang theo mùi cỏ khô luôn đọng lại trong tâm trí em. Kỉ niệm này giúp em cảm nhận sâu sắc thông điệp tác giả muốn truyền tải: trân trọng vẻ đẹp bình dị, thanh khiết và yên ả của làng quê Việt Nam. Đó là vẻ đẹp của sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người, là nguồn cội bình yên nuôi dưỡng tâm hồn mỗi người.