TRỊNH ĐÌNH CHÍ HIẾU
Giới thiệu về bản thân
Đặng Trần Côn là nhà thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam.Chinh phụ ngâm là tác phẩm đặc sắc của ông.Bằng thể thơ song thất lục bát giàu tính dân tộc,tác giả đã thể hiện tình cảm gia đình nồng ấm cũng như nỗi nhớ chồng thiết tha của người chinh phụ.
Bài thơ được sáng tác năm 1994 in trong tập Những khúc ngâm chọn lọc.Bài thơ được viết bài thể thơ song thất lục bát: cấu trúc khổ thơ gồm hai câu 7 chữ,đến hai câu lục bát(6-8).Nhịp điệu thơ uyển chuyển,du dương,có khả năng diễn tả cảm xúc sâu lắng,thương nhớ,bi ai,tha thiết.Thể thơ này thường dùng trong thơ trữ tình,than thân,ai ca, ngâm khúc.Như vậy,đây là một thể thơ truyền thống,giàu tính dân tộc,rất phù hợp để tác giả Đặng Trần Côn diễn tả nỗi thương nhớ,đau buồn của người chinh phụ có chồng đi chinh chiến.
Về nội dung, khổ thơ đầu tác giả viết:
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.
Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?
Bốn câu thơ song thất lục bát với vần điệu chặt chẽ, thăng trầm như những nốt nhạc buồn càng làm đậm thêm tình cảnh đơn chiếc, lẻ loi kia. Người trước có lúc sóng đôi vợ chồng thì nay “thầm gieo từng bước" dưới mái hiên vắng vẻ. Ngày nào bàn chuyện làm ăn cùng chồng bên cửa sổ thì này buông xuống kéo lên nhiều lần mong ngóng nhưng chẳng thấy chim thước báo tin lành. Ngày thì như thế, còn đêm thì không ngủ được, một mình đối diện với ngọn đèn khuya. Tình cảnh của người chinh phụ quá lẻ loi, đơn chiếc. Ngày thì khắc khoải chờ mong. Đêm dài câm lặng, biết riêng lòng mình, Hoa đèn kia dẫu sao còn lửa. Riêng lòng này với bóng lạnh lùng.
Tiếp nối mạch cảm xúc khổ thơ đầu, khổ thơ 2,tác giả viết:
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.
Có ai hay cho cảnh biệt li não nề này?Không ai cả! Chỉ có một mình nàng trong canh vắng, nàng chỉ có người bạn duy nhất là ngọn đèn vô tri vô giác. Phải chăng tác giả đưa ánh đèn đến cùng nàng để mong xua bớt cái tịch liêu của đêm tối hay cũng chính là cõi lòng tan nát của nàng?Có thể như vậy. Nhưng ta còn thấy gì sau hình ảnh đó? Một chiếc đèn khuya in bóng dáng lẻ loi của một người con gái trong canh trường liệu có xua tan được phần nào sự cô tịch của đêm?hay nó càng khắc khoải sâu hơn nữa cái hình ảnh đáng thương đó. Tả đèn chính là để tả không gian mênh mông và sự cô đơn của con người. Biện pháp này khá phổ biến trong thơ xưa , mang tính biểu cảm cao:”Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt”. Hình ảnh đèn ở đây được nhắc đến liên tiếp trong ba câu thơ là vì vậy. Nhìn ngọn đèn cháy năm canh, dầu đã cạn, bấc đã tàn, nàng chợt liên tưởng đến tình cảnh của mình và trong lòng rưng rưng nỗi thương thân trách phận. Thương cho đèn rồi lại thương cho lòng mình bi thiết.
Tiếp nối mạch cảm xúc khổ thơ 2,khổ thơ 3,tác giả viết:
Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hoè phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc giờ đằng đẳng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.
Bằng việc sử dụng bút pháp và cảnh ngụ tình thì “Tiếng gà eo óc” gáy là âm
thanh báo hiệu thời gian đang chuyển động một cách chậm chạp, điềm tĩnh không đoái hoài gì đến tâm trạng cô đơn, trống vắng của con người, bóng cây hòe tĩnh mịch trong đêm dường như làm tăng thêm ấn tượng về không gian cô quạnh,càng làm cho nỗi cô đơn trống vắng trong lòng người trở nên đáng sợ.Trong tâm trạng chờ đợi mỏi mòn, người chinh phụ thấy thời gian trôi qua một cách chậm chạp, một khắc giờ mà giống như một năm, với bút pháp so sánh, kết hợp với phóng đại, tác giả đã diễn tả một cách sắc sảo tâm trạng mong ngóng chờ đợi, khắc khoải của người chinh phụ, đồng thời nhấn mạnh được dáng vẻ mong mỏi đến úa tàn của người chinh phụ. Từ sự hi vọng, mong ngóng, tâm trạng của người chinh phụ chuyển sang sầu não, bị thương,
.
Tiếp nối mạch cảm xúc khổ thơ 3,khổ thơ cuối,tác giả viết:
Hương gượng đốt hồn đà mê mải,
Gương gượng soi lệ lại châu chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.
Để giải tỏa nỗi niềm sầu muộn, người chinh phụ đã tìm đến với thú vui tao nhã
thường ngày “soi gương đốt hương, gảy đàn” nhưng tất cả những việc làm này chỉ lẫn trong sự gượng gạo, miễn cưỡng, chán chường, thậm chí soi gương trang điểm thì gương mặt đã đã đầm đìa nước mắt, đốt hương để xua tan cái không khí ảm đạm, bị thương, thì tâm trạng lại chìm sâu hơn trong nỗi bị thương, cầm đàn lên gảy để gửi gắm nỗi niềm, tâm trạng qua tiếng đàn thì lại sợ dây đàn đứt.
Về nghệ thuật,thể thơ song thất lục bát được tác gỉa vận dụng sáng tạo,linh hoạt.Ngôn ngữ thơ giản dị,trang nhã,giàu hình ảnh,giàu nhạc tính.Biện pháp tu từ phong phú:ẩn dụ,hoán dụ,đảo ngữ,điệp từ,đối ngẫu,…Giọng điệu trữ tình,tha thiết,sâu lắng,có khi bi thiết.Có thể nói,hình thức nghệ thuật đã thể hiện được nỗi niềm người chinh phụ trong nhân cách,tâm hồn tác giả qua đoạn trích chinh phụ ngâm.
Như vậy,bằng thể thơ song thất lục bát nhịp nhàng,uyển chuyển,tác giả Đặng Trần Côn đã thể hiện sự thương xót,đau buồn,nhớ nhung của người chinh phụ.Bài thơ đã để lại trong em ấn tượng sâu sắc về vẻ đẹp trong tâm hồn tác giả cũng như tài năng thơ ca của ông.Em cảm thấy thời gian được ở cùng bên nhau thật quý giá vậy nên mỗi chúng ta hãy trân trọng những khoảnh khắc được sum vầy đoàn tụ gặp gỡ nhau.Ngoài ra, chúng ta cũng dành thời gian về thăm gia đình để được hạnh phúc,vui vẻ cùng nhau.
- Thông điệp: Con người không thể cưỡng lại quy luật vô thường của thời gian và cuộc đời; sống cần biết trân trọng hiện tại, giữ gìn những giá trị đang có.
- Lí giải: Từ Thức từ bỏ chốn tiên để trở về trần vì nỗi nhớ quê hương, nhưng khi quay về thì mọi thứ đã thay đổi, không thể tìm lại được điều xưa cũ. Điều này nhắc nhở con người không nên chạy theo những ảo vọng xa xôi, mà nên biết trân trọng thực tại, nơi mình đang sống và những người bên cạnh mình, vì một khi đã mất đi thì không thể quay trở lại.
- Thông điệp: Con người không thể cưỡng lại quy luật vô thường của thời gian và cuộc đời; sống cần biết trân trọng hiện tại, giữ gìn những giá trị đang có.
- Lí giải: Từ Thức từ bỏ chốn tiên để trở về trần vì nỗi nhớ quê hương, nhưng khi quay về thì mọi thứ đã thay đổi, không thể tìm lại được điều xưa cũ. Điều này nhắc nhở con người không nên chạy theo những ảo vọng xa xôi, mà nên biết trân trọng thực tại, nơi mình đang sống và những người bên cạnh mình, vì một khi đã mất đi thì không thể quay trở lại.