Nguyễn Bách Duy
Giới thiệu về bản thân
c1Bài thơ Việt Nam quê hương ta của Nguyễn Đình Thi đã để lại trong em nhiều cảm xúc sâu lắng về đất nước và con người Việt Nam. Trước hết, bài thơ mở ra một bức tranh thiên nhiên rộng lớn, tươi đẹp với hình ảnh “biển lúa”, “cánh cò”, “Trường Sơn” vừa quen thuộc vừa giàu chất thơ. Không chỉ có thiên nhiên, con người Việt Nam hiện lên giản dị, cần cù qua hình ảnh “áo nâu nhuộm bùn”, nhưng cũng vô cùng kiên cường khi đất nước bị xâm lăng. Từ một “đất nghèo”, dân tộc ta vẫn sản sinh ra những anh hùng, sẵn sàng đứng lên bảo vệ quê hương. Đặc biệt, bài thơ còn làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Nam với sự thủy chung, nghĩa tình và giàu lòng yêu thương. Ở những câu cuối, nỗi nhớ quê hương được thể hiện chân thành, gợi lên tình cảm gắn bó sâu sắc với những điều bình dị như bữa cơm rau muống, quả cà. Qua đó, em càng thêm yêu quý, tự hào về quê hương đất nước và ý thức hơn trách nhiệm của bản thân trong việc giữ gìn, xây dựng Tổ quốc.
Câu 1.
Thể thơ: Lục bát.
Câu 2.
Phương thức biểu đạt chính của bài thơ: Biểu cảm.
Câu 3.
– HS xác định được một biện pháp tu từ trong khổ thơ: Lặp cấu trúc (Ta đi ta nhớ ...), điệp từ (nhớ), liệt kê (rừng, dòng sông, đồng ruộng, khoai ngô, bữa cơm rau muống, quả cà giòn tan).
– HS phân tích được tác dụng của một biện pháp tu từ:
+ Lặp cấu trúc: Nhấn mạnh tình yêu, nỗi nhớ của người con xa quê dành cho quê của mình.
+ Điệp từ: Khẳng định nỗi nhớ của người con xa quê dành cho quê hương thông qua những sự vật quen thuộc, bình dị như núi đồng ruộng, khoai ngô.
+ Liệt kê: Chỉ ra những sự vật bình dị, quen thuộc của quê hương như núi rừng, dòng sông, đồng ruộng, khoai ngô, bữa cơm rau muống, quả cà giòn tan, qua đó thể hiện tình yêu, sự trân trọng của người con xa quê dành cho quê hương của mình.
Câu 4.
Con người Việt Nam hiện lên trong bài thơ với những phẩm chất:
– Dũng cảm, anh hùng: Khi đất nước lâm nguy, con người Việt Nam sẵn sàng vùng lên đấu tranh, đánh tan quân thù: Đạp quân thù xuống đất đen.
– Hiền hòa, chăm chỉ, cần cù: Mặt người vất vả in sâu/ Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn; Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa.
– Thủy chung, trọng tình: Yêu ai yêu trọn tấm tình thuỷ chung; Nước bâng khuâng những chuyến đò/ Đêm đêm còn vọng câu hò Trương Chi;...
– Khéo léo, tinh tế: Tay người như có phép tiên/ Trên tre lá cũng dệt nghìn bài thơ;...
Câu 5.
– Đề tài: Vẻ đẹp của quê hương, đất nước.
– Chủ đề: Tình yêu, sự trân trọng, ngợi ca dành cho vẻ đẹp và con người quê hương, đất nước.
a. Xác định đúng yêu cầu của đề: Nghị luận văn học.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích, đánh giá những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của đoạn trích.
c. Đề xuất được hệ thống ý làm rõ vấn đề bài viết:
- Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm; vấn đề nghị luận.
- Thân bài:
+ Nội dung: Đoạn trích là nỗi cô đơn, sầu khổ, thương nhớ da diết của người chinh phụ dành cho chồng đi chinh chiến phương xa. Nỗi buồn ấy là sự tuyệt vọng, khắc khoải của người phụ nữ, dù biết chắc chồng sẽ khó có thể quay về nhưng trong thâm tâm vẫn hi vọng.
+ Nghệ thuật:
- Thể thơ song thất lục bát giàu nhạc tính phù hợp với việc bộc bạch, thổ lộ cảm xúc của con người đã tạo ra âm hưởng buồn thương như dòng tâm trạng của người phụ nữ trong suốt cả đoạn trích.
- Hệ thống những từ láy, biện pháp điệp từ, điệp ngữ càng làm cho những câu thơ trở nên nặng trĩu tâm trạng, mở ra một nỗi buồn thương bao trùm lên cảnh vật.
- …
- Kết bài:
+ Khẳng định lại một cách khái quát những đặc sắc về nghệ thuật: giá trị tư tưởng và giá trị thẩm mĩ của bài thơ.
+ Nêu tác động của tác phẩm đối với bản thân.
d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
e. Sáng tạo: Sử dụng hình ảnh, từ ngữ, biện pháp tu từ độc đáo; Lời văn trau chuốt, sinh động, gợi cảm.
Chúng ta là con người trần thế dù có được sống nơi tiên cảnh cũng không thoát được nỗi nhớ quê hương
- Cuộc đời con người không tồn tại vĩnh viễn mà chỉ là khoảng thời gian hữu hạn, chúng ta cũng không được hưởng đặc ân vô biên từ tạo hóa.
- Chúng ta không thể tham lam, không thể có tất cả, khi ta không chấp nhận bằng lòng ta sẽ mất hết.
Sự lựa chọn của Từ Thức khi vào núi Hoành Sơn là biểu hiện của sự chán ngán thế sự, khát vọng tự do và giải thoát khỏi cuộc sống trần tục đầy ràng buộc, sau khi giấc mộng ở chốn tiên cảnh và trở về quê nhà đều tan vỡ. Việc mặc áo cừu, đội nón lá là sự từ bỏ cuộc sống giàu sang, phú quý để trở về với bản ngã thuần khiết, hòa mình vào thiên nhiên hoang vu, nơi anh tìm kiếm sự giải thoát hoàn toàn.
a) Xét tam giác \(A B H\) vuông tại \(H\), ta có \(H B = A H . tan \hat{B A H} = 4. tan 2 8^{\circ} \approx 2 , 1\) (cm)
Vì tam gaisc \(A H C\) vuông tại \(H\) nên \(H C = A H . cot \hat{C} = 4. cot 4 1^{\circ} \approx 4 , 6\) (cm)
b) Xét tam giác \(A B H\) vuông tại \(H\), ta có
\(cos \hat{B A H} = \frac{A H}{A B}\) hay \(A B = \frac{A H}{cos \hat{B A H}} = \frac{4}{cos 28 ^{\circ}} \approx 4 , 5\) (cm)
Vì tam giác \(A H C\) vuông tại \(H\) nên \(sin \hat{C} = \frac{A H}{A C}\) hay \(A C = \frac{A H}{sin \hat{C}} = \frac{4}{sin 4 1^{\circ}} \approx 6 , 1\) (cm).
Kẻ đường cao \(A H ⊥ B C\).

Xét \(\Delta A B H\) vuông tại \(H\) có \(A H = A B . sin \hat{B} = 3. sin 6 0^{\circ} \approx 2 , 6\)
Tương tự, xét \(B H = A B . cos \hat{B} = 3. cos 6 0^{\circ} = 1 , 5\)
Mà \(H C = B C - H B = 4 , 5 - 1 , 5 = 3 , 0\)
Theo định lí Pythagore ta có \(A B^{2} = B H^{2} + A H^{2} = 3^{2} + 2 , 6^{2} = 15 , 76\)
Suy ra \(A B = \sqrt{15 , 76} \approx 4 , 0\)
Xét \(\Delta A H C\) vuông tại \(H\) ta có \(tan \hat{A C H} = \frac{A H}{H C} \approx \frac{2 , 6}{3 , 0} \approx tan 4 0^{\circ} 5 5^{'}\)
Do \(\hat{A} = 18 0^{\circ} - \hat{B} - \hat{C} = 18 0^{\circ} - \left(\right. 6 0^{\circ} + 4 0^{\circ} 5 5^{'} \left.\right) = 7 9^{\circ} 5^{'}\)
Vẽ \(A H ⊥ B C\).

Xét \(\Delta \&\text{nbsp}; A B H\) vuông tại \(H\) có \(A H = A B . sin \hat{B} = 2 , 1. sin 7 0^{\circ} \approx 1 , 97\)
Tương tự, xét \(B H = A B . cos \hat{B} = 2 , 1. cos 7 0^{\circ} \approx 0 , 72\)
Mặt khác, xét \(\Delta A H C\) vuông tại \(H\) ta có
\(sin \hat{C} = \frac{A H}{A C} \approx \frac{1 , 97}{3 , 8} \approx sin 3 1^{\circ} 1 4^{'}\)
Do đó \(\hat{C} \approx 3 1^{\circ} 1 4^{'}\)
Mà \(\hat{A} = 18 0^{\circ} - \left(\right. 7 0^{\circ} + 3 1^{\circ} 1 4^{'} \left.\right) = 7 8^{\circ} 4 6^{'}\)
Ta có \(H C = A C . cos \hat{C} \approx 3 , 80. cos 3 1^{\circ} 1 4^{'} \approx 3 , 25\)
Mà \(B C = B H + H C = 0 , 72 + 3 , 25 = 3 , 97\).

Ta có \(\hat{A} = 180 ^{\circ} - \hat{B} - \hat{C} = 7 5^{\circ}\)
Kẻ đường cao \(B H\).
Xét \(\Delta B C H\) vuông tại \(H\), ta có:
\(B H = B C . sin \hat{C} = 4 , 2. sin 4 0^{\circ} \approx 2 , 70\) (cm)
Tương tự, xét \(\Delta A B H\) vuông tại \(H\), ta có:
\(A B = \frac{B H}{sin \hat{A}} = \frac{2 , 70}{sin 7 5^{\circ}} \approx 2 , 8\) (cm)
Mặt khác ta có \(A C = A H + C H = B H . \left(\right. cot \hat{A} + cot \hat{C} \left.\right) \&\text{nbsp}; \approx 2 , 70. \left(\right. cot 7 5^{\circ} + cot 4 0^{\circ} \left.\right) \approx 3 , 9\) cm.
Ta có: ∠A + ∠B + ∠C = 1800
⇒ ∠A = 1800- ∠B - ∠C = 1800 - 650 - 450= 700
Kẻ đường cao AH
Xét tam giác ABH vuông tại H có:
AH = AB.sin B = 2,8.sin 65o ≈ 2,54 cm
BH = AB.cos 65o = 2,8.cos 65o ≈ 1,18 cm
Xét tam giác AHC vuông tại H có:
HC = AH.cotg C = 2,54.cotg 450 ≈ 2,54 cm
Ta có: BC = BH + HC = 1,18 + 2,54 = 3,72 cm
Vậy ∠A = 700; AC = 3,59 cm; BC= 3,72 cm