Trần Thị Thu Hà

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Trần Thị Thu Hà
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Xét tam giác B C ABC, áo dụng tính chất tia phân giác trong tam giác, ta có: A M M B = A C C B = A B C B = A N N C ( = b a ) MB AM = CB AC = CB AB = NC AN (= a b ) Vậy M N MN // B C BC (Định lí đảo của định lí Thalès) Suy ra M N B C = A M A B = b b + a BC MN = AB AM = b+a b (Định lí Thalès) Vậy nên M N = a b a + b . MN= a+b ab .

Tam giác A B C ABC cân tại A A nên A B = A C = 12 AB=AC=12 cm. Xét tam giác A B C ABC, áp dụng tính chất tia phân giác ta có: A D D B = A C C B = 12 6 = 2 DB AD = CB AC = 6 12 =2 Suy ra A D A B = 2 3 AB AD = 3 2 suy ra A D = 2 3 . 12 = 8 AD= 3 2 .12=8 (cm) Do đó, D B = 12 − 8 = 4 DB=12−8=4 (cm).

Xét \(\Delta B E D\) có \(\left{\right. & M I // E D \\ & M E = B M\) suy ra \(I D = I B\).

Xét \(\Delta C E D\) có \(\left{\right. & N K // E D \\ & N C = N D\) suy ra \(K E = K C\).

Suy ra \(M I = \frac{1}{2} E D\)\(N K = \frac{1}{2} E D\)\(E D = \frac{1}{2} B C\).

\(I K = M K - M I = \frac{1}{2} B C - \frac{1}{2} D E = D E - \frac{1}{2} D E = \frac{1}{2} D E\).

Vậy \(M I = I K = K N\).


a) Vì \(B M\)\(C N\) là các đường trung tuyến của \(\Delta A B C\) nên \(M A = M C\)\(N A = N B\).

Do đó \(M N\) là đường trung bình của \(\Delta \&\text{nbsp}; A B C\), suy ra \(M N\) // \(B C\). (1)

Ta có \(D E\) là đường trung bình của \(\Delta \&\text{nbsp}; G B C\) nên \(D E\) // \(B C\).  (2)

Từ (1) và (2) suy ra \(M N\) // \(D E\).

b) Xét \(\Delta \&\text{nbsp}; A B G\), ta có \(N D\) là đường trung bình.

Xét \(\Delta \&\text{nbsp}; A C G\), ta có \(M E\) là đường trung bình.

Do đó \(N D\) // \(A G\)\(M E\) // \(A G\).

Suy ra \(N D\) // \(M E\).


a) Qua \(D\) vẽ một đường thẳng song song với \(B M\) cắt \(A C\) tại \(N\).

Xét \(\Delta\&MBC;MBC\) có \(D B = D C\) và \(D N\) // \(B M\) nên \(M N = N C = \frac{1}{2} M C\) (định lí đường trung bình của tam giác).

Mặt khác \(A M = \frac{1}{2} M C\), do đó \(A M = M N = \frac{1}{2} M C\).

Xét \(\Delta\∧AND\) có \(A M = M N\) và \(B M\) // \(D N\) nên \(O A = O D\) hay \(O\) là trung điểm của \(A D\).

b) Xét \(\Delta\∧AND\) có \(O M\) là đường trung bình nên \(O M = \frac{1}{2} D N\). (1)

Xét \(\Delta\&MBC;MBC\) có \(D N\) là đường trung bình nên \(D N = \frac{1}{2} B M\). (2)

Từ (1) và (2) suy ra \(O M = \frac{1}{4} B M\).


a) Kẻ \(M N\) // \(B D\)\(N \in A C\).

\(M N\) là đường trung bình trong \(\triangle C B D\)

Suy ra \(N\) là trung điểm của \(C D\) (1).

\(I N\) là đường trung bình trong \(\triangle A M N\)

Suy ra \(D\) là trung điểm của \(A N\) (2).

Từ (1) và (2) suy ra \(A D = \frac{1}{2} D C\).

b) Có \(I D = \frac{1}{2} M N\)\(M N = \frac{1}{2} B D\), nên \(B D = I D\)

Bài thơ "Đề đền Sầm Nghi Đống" là một minh chứng tiêu biểu cho phong cách thơ đầy ngông nghênh và bản lĩnh của "Bà chúa thơ Nôm" Hồ Xuân Hương. Với giọng điệu mỉa mai, tác giả đã hạ bệ uy danh của một bại tướng (Sầm Nghi Đống) để khẳng định vị thế của người phụ nữ. Mở đầu bằng cái nhìn bao quát về ngôi đền, nữ sĩ gọi đó là "kìa" với thái độ coi thường, xem nhẹ. Đỉnh cao của sự ngông cuồng nằm ở hai câu cuối: "Ví đây đổi phận làm trai được / Thì sự anh hùng há bấy nhiêu". Câu hỏi tu từ đầy thách thức này không chỉ là lời mỉa mai sự bất tài của Sầm Nghi Đống mà còn là khát vọng mãnh liệt về sự bình đẳng giới. Xuân Hương tự tin khẳng định nếu ở vị thế nam nhi, bà sẽ lập nên những công trạng lẫy lừng hơn thế nhiều lần. Qua đó, bài thơ không chỉ phê phán những kẻ bất tài mà còn là bản tuyên ngôn đầy kiêu hãnh về tài năng và ý chí của người phụ nữ trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ. Từ nội dung bài thơ "Đề đền Sầm Nghi Đống" của Hồ Xuân Hương với thái độ mỉa mai sự bất tài của kẻ ngoại xâm và khát vọng lập nên công trạng anh hùng, chúng ta rút ra bài học sâu sắc về lòng tự tôn dân tộc. Từ đó, mỗi người cần nhìn nhận rõ trách nhiệm của mình trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay. Trách nhiệm với đất nước là sự gắn bó giữa cá nhân với cộng đồng, là ý thức tự giác đóng góp công sức, trí tuệ để giữ vững nền độc lập và thúc đẩy sự phát triển của dân tộc. Trong bài thơ, Hồ Xuân Hương đã thể hiện một bản lĩnh ngông nghênh nhưng đầy tự hào: "Ví đây đổi phận làm trai được / Thì sự anh hùng há bấy nhiêu". Câu thơ không chỉ hạ bệ tên tướng bại trận Sầm Nghi Đống mà còn khẳng định một chân lý: Bất cứ ai, dù là nam hay nữ, nếu có bản lĩnh và lòng yêu nước đều có thể đóng góp cho đại nghiệp quốc gia. Trong bối cảnh năm 2026, khi đất nước đang đứng trước những vận hội mới của kỷ nguyên vươn mình, trách nhiệm của mỗi công dân càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Xây dựng Tổ quốc không phải là những điều gì quá lớn lao, nó bắt đầu từ việc học tập nghiêm túc, lao động hăng say và sống có đạo đức. Đối với thế hệ trẻ, đó là việc làm chủ công nghệ, sáng tạo trong sản xuất và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc giữa dòng chảy toàn cầu hóa. Bên cạnh đó, bảo vệ Tổ quốc không chỉ là bảo vệ lãnh thổ, biên giới mà còn là bảo vệ chủ quyền không gian mạng, chống lại những thông tin xấu độc và giữ gìn sự bình yên cho xã hội. Một cá nhân biết sống trách nhiệm sẽ tạo nên một gia đình hạnh phúc, nhiều gia đình tốt sẽ tạo nên một quốc gia hùng mạnh. Chúng ta cần phê phán những kẻ sống ích kỷ, thờ ơ trước vận mệnh dân tộc hoặc có hành vi làm tổn hại đến uy tín quốc gia. Tóm lại, tinh thần "anh hùng" mà Hồ Xuân Hương gửi gắm chính là lời nhắc nhở về khát vọng cống hiến. Mỗi chúng ta cần xác định rằng: Tổ quốc là của chung, và việc dựng xây, bảo vệ nó là quyền lợi cũng như nghĩa vụ thiêng liêng. Hãy sống và hành động sao cho xứng đáng với truyền thống hào hùng của cha ông, để ngọn lửa trách nhiệm luôn rực cháy trong tim mỗi người Việt Nam.







Câu 1 . Bài thơ thuộc thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.

Câu 2

– Từ tượng hình được sử dụng trong bài thơ: "cheo leo".

– Trợ từ: "kìa".

Câu 3

– Những chi tiết miêu tả hành động, thái độ của nữ sĩ Xuân Hương khi đi qua đền Sầm Nghi Đống trong hai câu thơ đầu là "ghé mắt trông ngang", "kìa".

– Nhận xét:

+ Ta cảm nhận được đó là cái nhìn ngang, nhìn bằng nửa con mắt, khinh rẻ, coi thường của nhà thơ với kẻ xâm lược bại trận. Đây là cái nhìn châm biếm sâu cay, đầy chế giễu. Từ "kìa" cho thấy sự coi thường, mỉa mai của nữ sĩ.

+ Từ đó, tác giả còn thể hiện niềm tự hào dân tộc vì đã đánh bại kẻ thù xâm lược.

Câu 4

– Trong hai câu thơ đã cho, tác giả đã sử dụng biện pháp nhân hoá "đền Thái Thú đứng cheo leo".

– Tác dụng:

+ Nhân hoá khiến cho hình ảnh đền Thái Thú hiện lên sinh động, có sự sống, mang đặc điểm của con người.

+ Gợi hình ảnh ngôi đền ở thế chông chênh, không vững chãi, không còn mang sự thiêng liêng vốn có của một ngôi đền.

+ Thông qua hình ảnh đó, tác giả đã thể hiện thái độ coi thường, khinh bỉ đối với kẻ thù bại trận Sầm Nghi Đống bởi dân tộc ta.

+ Từ đó, câu thơ càng tô đậm sắc thái, giọng điệu trào phúng sâu cay.

Câu 5

+ Tác giả thể hiện sự mỉa mai, khinh bỉ sâu cay với thất bại nhục nhã của kẻ thù xâm lược; vạch trần vẻ uy nghiêm giả tạo của đền thờ để khẳng định niềm tự hào dân tộc.

+ Tác phẩm là lời thách thức táo bạo đối với quan niệm "trọng nam khinh nữ" của xã hội phong kiến, qua đó khẳng định tài năng, chí khí và khát vọng làm nên sự nghiệp phi thường của người phụ nữ Việt Nam.


Trong xã hội hiện đại, bên cạnh những tấm gương trẻ đầy nhiệt huyết và cống hiến, vẫn còn một bộ phận giới trẻ đang trượt dài trong lối sống vô trách nhiệm. Đây là một vấn nạn đáng báo động, gây ra những hệ lụy khôn lường cho chính bản thân họ và cộng đồng. Lối sống vô trách nhiệm trước hết thể hiện ở sự thờ ơ với chính bản thân mình. Nhiều bạn trẻ hiện nay sống không mục đích, không lý tưởng, bỏ mặc việc học tập và rèn luyện để đắm chìm vào những thú vui vô bổ, tệ nạn xã hội hay thế giới ảo [1, 2]. Họ sẵn sàng buông thả, lười nhác và luôn tìm cách đổ lỗi cho hoàn cảnh thay vì tự chịu trách nhiệm về những sai lầm của mình. Không chỉ dừng lại ở cá nhân, lối sống này còn biểu hiện qua thái độ vô cảm với gia đình và xã hội. Trong gia đình, đó là sự dựa dẫm, ỷ lại vào cha mẹ, coi việc được nuôi nấng là hiển nhiên mà không biết ơn hay giúp đỡ. Ngoài xã hội, đó là sự thờ ơ trước những nỗi đau của người khác, sự vi phạm pháp luật hay các quy tắc đạo đức công cộng chỉ để thỏa mãn cái tôi ích kỷ [2, 3]. Nguyên nhân của thực trạng này đến từ nhiều phía. Về chủ quan, đó là do sự thiếu bản lĩnh, thiếu ý thức tu dưỡng đạo đức của một bộ phận thanh niên. Về khách quan, sự nuông chiều thái quá từ gia đình và những tác động tiêu cực của mạng xã hội đã góp phần hình thành nên lối sống hưởng thụ, ích kỷ [1, 3]. Hậu quả của lối sống vô trách nhiệm là vô cùng nặng nề. Nó không chỉ khiến cá nhân đó bị tụt hậu, mất đi tương lai mà còn trở thành gánh nặng cho gia đình và làm suy thoái đạo đức xã hội. Một quốc gia không thể phát triển bền vững nếu thế hệ kế cận chỉ biết sống cho riêng mình và trốn tránh trách nhiệm. Để khắc phục tình trạng này, mỗi bạn trẻ cần tự ý thức về vai trò của mình. Hãy bắt đầu bằng việc tự chịu trách nhiệm với những việc nhỏ nhất của bản thân, học cách sẻ chia và thấu hiểu. Đồng thời, gia đình và nhà trường cần có sự định hướng đúng đắn, giúp các em hiểu rõ giá trị của lao động và trách nhiệm công dân. Tóm lại, trách nhiệm không phải là một gánh nặng, mà là thước đo giá trị của con người. Giới trẻ hãy chọn cho mình lối sống có trách nhiệm để khẳng định bản thân và góp phần xây dựng một xã hội văn minh, tốt đẹp hơn.

1

Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú luật Đường.

0.5

2

Đối tượng trào phúng trong bài thơ là tác giả.

0.5

3

– Từ “làng nhàng” trong bài thơ có nghĩa là thuộc vào loại tạm gọi là trung bình, không có gì nổi bật.

– Từ “làng nhàng” góp phần thể hiện thái độ xem thường, mỉa mai, cười cợt chính mình của tác giả. Bên cạnh đó, từ này còn giúp bộc lộ cảm xúc buồn bã, tủi hổ của nhà thơ khi nhận thấy mình chỉ là kẻ tầm thường, vô dụng.

1.0

4

– Nghệ thuật trào phúng trong hai câu thơ là ẩn dụ.

– Tác dụng: Nhấn mạnh hoàn cảnh của đất nước (nước mất, bế tắc như thế cờ bí); hoàn cảnh của chính nhà thơ (chưa trọn cuộc đời làm quan đã bỏ về ở ẩn như con bạc chạy làng). Biện pháp ẩn dụ khắc họa rõ tiếng cười của tác giả tự chế nhạo mình là kẻ vô tích sự khi đất nước rơi vào cảnh khốn cùng thì bản thân chẳng thể làm gì có ích.

1.0

5

Vào thời phong kiến, những người đỗ đạt trong các kì thi thường được khắc tên trên “bia xanh”, “bảng vàng”. Hai câu thơ chính là tiếng cười chua cay của tác giả. Ông tự cười cợt, khinh bỉ chính địa vị mà mình từng được ngồi. Dù có đỗ đạt nhưng chẳng thể làm gì trước cảnh nước mất nhà tan.

1.0


6

– Học sinh trình bày theo suy nghĩ, quan điểm của mình về việc làm của giới trẻ ngày nay để cống hiến, xây dựng quê hương đất nước.

– Gợi ý:

+ Cần noi theo tấm gương học tập của Bác Hồ, ra sức học hành, tích lũy tri thức, góp phần đưa đất nước phát triển với cường quốc năm châu.

+ Cần giữ gìn, bảo vệ những giá trị truyền thống nhưng cũng cần tiếp thu sự phát triển hiện đại của khoa học công nghệ.

+ Cần có ý thức quảng bá nét đẹp văn hóa đất nước với bạn bè năm châu.

+ …