Diệp Minh Hiếu

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Diệp Minh Hiếu
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

-Theo Darwin, hươu cao cổ hình thành qua chọn lọc tự nhiên: tổ tiên có biến dị cổ ngắn/dài khác nhau. Khi thức ăn khan hiếm, nhóm cổ dài tận dụng lá cao, sống sót và sinh sản tốt hơn (biến dị có lợi), tích lũy qua nhiều thế hệ. Quá trình này đào thải hươu cổ ngắn và hình thành loài hươu cao cổ ngày nay. 

-Các giai đoạn chi tiết theo quan điểm của Darwin:

+Sự đa dạng ban đầu (Biến dị cá thể): Quần thể tổ tiên hươu cao cổ không hoàn toàn giống nhau, mà bao gồm các cá thể có chiều dài cổ khác nhau (có con cổ ngắn, con cổ dài hơn một chút) do biến dị di truyền.

+Tác động của môi trường (Chọn lọc tự nhiên): Khi môi trường thay đổi (khô hạn, lá cây thấp khan hiếm), hươu cổ ngắn khó kiếm ăn, trong khi hươu cổ dài hơn có lợi thế tiếp cận nguồn lá trên cao .

  • +Sự tích lũy đặc điểm (Sống sót và sinh sản): Những con hươu cổ dài sống sót tốt hơn và sinh sản nhiều hơn, truyền lại gen quy định đặc điểm cổ dài cho thế hệ sau.
  • Kết quả (Hình thành loài): Qua thời gian dài, các biến dị có lợi (cổ dài) được tích lũy, cá thể biến dị bất lợi (cổ ngắn) bị đào thải, dần dần hình thành loài hươu cao cổ mới. 

-Nhóm gene liên kết là tập hợp các gene nằm trên cùng một nhiễm sắc thể (NST) và có xu hướng di truyền cùng nhau.

-Morgan chọn ruồi giấm (Drosophila melanogaster) làm đối tượng nghiên cứu vì chúng dễ nuôi, sinh sản nhanh, vòng đời ngắn, số lượng nhiễm sắc thể ít ( 2n = 8 ) và có nhiều biến dị dễ quan sát. 

Vì :

+) tạo ra allele mới : đột biến gene làm thay đổi cấu trúc của gene, từ đó tạo ra các allele mới, dẫn đến sự xuất hiện của các tính trạng mới trong quần thể.

+) tính phổ biến ít gây hại nghiêm trọng : so với đột NST, đột gene phổ biến hơn, ít gây chết và làm khả năng sinh sản của cá thể hơn, nên các biến dị này dễ dàng được giữ lại và di truyền qua các thế hệ

+) cung cấp nguyên liệu cho chọn lọc tự nhiên : các allele đột biến qua quá trình giao phối sẽ tạo ra vô số biến dị tổ hợp. đây là là kho dự trữ biến dị di truyền phong phú dể chọn lọc tự nhiên tác động, giữ lại những biến dị có lợi cho sự thích nghi của sinh vật.