Trần Huyền Nhi

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Trần Huyền Nhi
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

câu1: thể thơ của văn bản là song thất lục bát câu 2 : dòng thơ thể hiện sự mong mỏi ngóng trông là : ngoài rèm,thước chẳng mắt tin,Trong rèm dường đã có đèn biết chăng.” Câu 3:hành động của người chinh phụ và nhận xét là: Hành động:Nàng dạo hiên vắng ngồi rèm thưa để rủ thác gieo bói tiền,tâm trạng ngẩn ngơ,bơ phờ. Nhận xét: những hành động này cho thấy sự cô đơn,trống vắng và tâm trạng mòn mỏi sầu muộn của người chinh phụ. Câu 4 trong bài thơ chinh phụ ngâm của tác giả Đặng Trần Côn đã sử dụng rất thành công biện pháp tu từ nhân hoá qua hình ảnh ‘Đèn có biết dường bằng chẳng biết’ biện pháp tu từ nhân hoá đã nhấn mạnh nỗi lòng cô đơn và bất lực của người chinh phụ.Nàng cảm thấy nỗi cô đơn quá lớn đến mức ngay cả ánh đèn ,một vật vô tri,cũng không thể thấu hiểu.Điều này làm tăng thêm sự bi thiết,bi luỵ của nàng. Câu 5:tâm trạng và suy nghĩ về hoà bình là: tâm trạng:Nỗi nhỡ nhung,cô đơn,sầu muộn,bi thiết trước cảnh chia lia do chiến tranh. suy nghĩvề giá trị hoà bình : Qua tâm trạng của người chinh phụ ta thấy được giá trị to lớn của hoà bình đó là hạnh phúc được sum vầy,được sống trong bình yên không còn cảnh chia li,li biệt.Hoà bình là sự bảo toàn hạnh phúc lứa đôi tránh xa mọi đau khổ do chiến tranh gây ra.

câu1:Nhân vật người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm là hình ảnh tiêu biểu cho nỗi đau của người vợ có chồng ra trận trong thời loạn lạc. Qua từng câu thơ, nỗi cô đơn, buồn tủi và khao khát hạnh phúc lứa đôi hiện lên một cách sâu sắc. Chồng ra đi, người chinh phụ sống trong cảnh “phòng không”, lẻ loi, nhớ nhung da diết. Nàng không chỉ đau vì phải xa cách người thương mà còn vì nỗi lo lắng, thấp thỏm cho sự an nguy của chồng nơi chiến trường. Những hành động như “gảy đàn”, “thắp đèn”, “trông cửa” chỉ càng làm nổi bật nỗi nhớ và sự trống trải trong tâm hồn. Tâm trạng của nàng là sự giằng xé giữa bổn phận với đất nước và khát vọng hạnh phúc cá nhân. Thông qua hình ảnh người chinh phụ, tác giả không chỉ bày tỏ nỗi thương cảm với số phận người phụ nữ trong chiến tranh mà còn ngầm lên án những cuộc chiến phi nghĩa, đẩy con người vào cảnh chia lìa, đau khổ. Nhân vật người chinh phụ vì vậy trở thành biểu tượng cho nỗi đau thầm lặng và phẩm chất thủy chung của người phụ nữ xưa. Câu2: Bài làm Đặng Trần Côn (chưa rõ năm sinh, năm mất) người làng Nhân Mục, tên nôm là làng Mộc, huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ông sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII. về sáng tác, ngoài tác phẩm chính là Chinh phụ ngâm, ông còn làm thơ chữ Hán và viết một số bài phú chữ Hán. Theo các tài liệu lịch sử, đầu đời Lê Hiển Tông, có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra quanh kinh thành Thăng Long. Triều đình cất quân đánh dẹp, nhiều trai tráng phải từ giã người thân ra trận. Đặng Trần Côn cảm động trước nỗi khổ đau mất mát của con người, nhất là những người vợ lính trong chiến tranh, đã viết Chinh phụ ngâm. Khúc ngâm này gồm 476 câu thơ làm theo thể trường đoản cú (câu thơ dài ngắn không đều nhau). Tác phẩm đã được dịch ra chữ Nôm, và chưa biết ai là tác giả bản dịch hiện hành. Có người cho rằng đó là bản dịch của Đoàn Thị Điểm. Lại có người cho rằng Phan Huy Ích chính là dịch giả của Chinh phụ ngâm. Đoạn trích dưới đây thuộc bản dịch hiện hành, viết về tình cảm và tâm trạng người chinh phụ phải sống cô đơn, mòn mỏi trong thời gian dài người chồng đi đánh trận, không có tin tức, không rõ ngày trở về. Kể từ lúc tiễn chồng vào “cõi xa mưa gió” người chinh phụ trở về sống trong tình cảm đơn chiếc, lẻ loi. Ngày cũng như đêm, sau khi công việc đã yên mọi bề, người chinh phụ Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước, Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen. Ngoài rèm thước chẳng mách tin, Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng? Bốn câu thơ song thất lục bát với vần điệu chặt chẽ, thăng trầm như những nốt nhạc buồn càng làm đậm thêm tình cảnh đơn chiếc, lẻ loi kia. Người trước có lúc sóng đôi vợ chồng thì nay “thầm gieo từng bước" dưới mái hiên vắng vẻ. Ngày nào bàn chuyện làm ăn cùng chồng bên cửa sổ thì nay buông xuống kéo lên nhiều lần mong ngóng nhưng chẳng thấy chim thước báo tin lành. Ngày thì như thế, còn đêm thì không ngủ được, một mình đối diện với ngọn đèn khuya. Tình cảnh của người chinh phụ quá lẻ loi, đơn chiếc. Ngày thì khắc khoải chờ mong. Đêm dài câm lặng, biết riêng lòng mình, Hoa đèn kia dẫu sao còn lửa. Riêng lòng này với bóng lạnh lùng. Khắc giờ đằng đẵng như niên, Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa. Hai câu lục bát, một câu miêu tả thời gian, một câu miêu tả nỗi buồn. Cả hai câu đều mang nghệ thuật so sánh. Trong tình cảnh lẻ loi ấy thì một giờ là đợi dài tựa một năm, như người xưa thường ví “Nhất nhật bất kiến như tam thu hề", ngày sau này Xuân Quỳnh tâm sự “Một ngày không gặp nhau / Biển bạc đầu thương nhớ”. Thời gian chờ đợi càng dài thì nỗi sầu càng lớn "tựa miền biển xa”. Tình cảnh đã bước qua tâm trạng. Đấy là tâm trạng nhớ thương của người chinh phụ gửi tới chồng ở miền xa. Nỗi nhớ thương thật tha thiết. Lòng này gửi gió đông có tiện? Nghìn vàng xin gửi đến non Yên Non Yên dù chẳng tới miền, Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời. Bốn câu thơ trên là lời tâm sự của vợ gửi đến chồng. Nhưng chim thước không có để nhờ mang thư đi. Vậy thì gửi lời nhớ thương theo gió. Nhưng gửi theo gió đông thì gió có mang lời thủ thỉ đến được tai chàng? Biết chàng đang ở nơi nào ngoài mặt trận? Thôi thì lòng thương quý chàng xin được gửi đến nơi xa nhất mà chàng tới như Đậu Hiến đời Hậu Hán đánh đuổi giặc Bắc Thiền Vu đến núi Yên Nhiên, bởi vì: “Nay Hán xuống Bạch Thành đóng lại, Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua. ” Đời chiến binh là như thế, là “ôm yên, gối trống đã chôn, / Năm vùng cát trắng ngủ cồn rêu xanh”, chưa kể đời chiến binh mấy người đi trở lại. Tình thương, nỗi nhớ của nàng là như thế. Nhưng: Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu, Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong. Cảnh buồn người thiết tha lòng, Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun. Dù là “Trời” thì Trời cũng khó mà hiểu thấu tình thương và nỗi nhớ da diết của người chinh phụ. Các từ láy “thăm thẳm, đau đáu” càng làm tăng thêm sự không hiểu biết, không thấy được của Trời, và chỉ có người trong cuộc (người chinh phụ) mới cảm nhận rõ lòng mình. Cảnh thì buồn, đến cả cây cỏ và tiếng côn trùng cũng não ruột. Còn tình thì da diết thiết

Câu 1

Nhà thơ Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất trong niên thơ ca Việt Nam hiện đại. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông là bài thơ Chim Thêu, gợi lên hi vọng, mong muốn của người cha đang mong mỏi chờ người con đang ở chiến trường nơi miền Nam còn trong chiến tranh đẫm màu đỏ. Và bà khổ thơ cuối của bài thơ đã khắc họa hình ảnh người cha tần tả, giàu đức hy sinh, đồng thời thể hiện tình cảm sâu nặng của người con đối với cha của mình. Khổ thơ thứ tư, hình ảnh "người cha" với "đen tròn" gợi lên hình ảnh người cha chờ đợi con trong những ngày con chiến đấu. Hình ảnh người cha ôm tấm áo vào lòng gợi tả như cha đang ôm con trong lòng. Ba khổ gợi lên nỗi lòng của người cha khi con ở chiến trường xa nhà, cha đã thêu áo cho con để gửi đến chiến trường nhưng chưa gửi được. Bây giờ người con đã hi sinh, nhưng sự hi sinh đó đã tạo nên những mầm non mới mặc áo chim trắng tạo ra những thành tựu mới cho đất nước. Tác giả đã gợi tả những hi sinh của những chiến sĩ dũng mãnh dành độc lập cho đất nước nhưng cũng có mất mát to lớn cho gia đình.

Câu 2

Tình yêu thương của cha mẹ là tình cảm thiêng liêng và là độc lực giúp con cái nhưng tình yêu thương cũng có thể vừa là một độc lực mạnh mẽ, nhưng cũng là một tiềm ẩn ro lớn.

Tình cảm yêu thương của cha mẹ trước hết là một nguồn động lực to lớn. Cha mẹ luôn dành sự quan tâm, từ miếng ăn, đến giấc ngủ đến việc học hành, vui chơi. Điều này giúp con cảm thấy được yêu thương, che chở, từ đó có thêm động lực để sống tốt và học tập chăm chỉ. Cha mẹ luôn đặt niềm tin vào con con sẽ cảm thấy được sự khích lệ, có trách nhiệm hơn với bản thân và nỗ lực hết mình để đạt được những thành công, không phụ lòng cha mẹ. Và họ luôn sẵn sàng hi sinh nhiều thứ vì con cái. Nhận thức được điều đó làm động lực cố gắng cho con cái.

Tuy nhiên đôi khi tình yêu thương của cha mẹ cũng vô tình trở thành áp lực cho con. Khi cha mẹ đặt quá nhiều kỳ vọng, mong muốn con cái phải hoàn hảo theo một khuôn mẫu nhất định, điều đó có thể tạo ra gánh nặng tâm lý cho con. Áp lực học tập, áp lực phải thành công, áp lực phải làm hài lòng cha mẹ có thể khiến con cảm thấy rất mệt mỏi, căng thẳng, thậm trí làm mất đi sự tự tin và niềm vui trong cuộc sống. Đặc biệt, khi cha mẹ so sánh con cái với người khác hoặc không chấp nhận những lựa chọn sở thích riêng của con, làm cho con càng ngày trở nên áp lực và nặng nề hơn.

Một tình yêu thương thật sự là tình yêu thương thực sự là động lực và giảm thiểu áp lực, cha mẹ phải học cách yêu thương thấu hiểu suy nghĩ một cách khoa học và tôn trọng về những sở thích của con mình. Thay vì áp đặt thì hãy lắng nghe và lắng nghe để hiểu rõ con hơn. Thay vì chú trọng vào thành tích, hãy quan tâm đến sự phát triển toàn diện và hạnh phúc của con. Về phía con cái, chúng ta cần biết trân trọng tình yêu thương của cha mẹ, đồng thời cũng cần mạnh dạn chia sẻ những suy nghĩ,mong muốn của bản thân để cha mẹ có thể thấu hiểu và đồng hành cùng mình một cách đầy hạnh phúc.

Vậy nên, tình yêu thương của cha mẹ dành cho ta là vô giá, nhưng nó sẽ trở nên ý nghĩa nhất khi được thể hiện một cách đúng đắn, trở thành nguồn động lực tích cực, giúp con cái trưởng thành một cách tự tin và tràn đầy hạnh phúc và yêu thương.


Câu 1

Thể thơ của văn bản là song thất lục bát

Câu 2

Nhân vật trữ tình trong văn bản là người cha

Câu 3

Bài thơ nói về tình phụ tử của người cha dành cho con. Bài thơ cũng ca ngợi tình yêu thương của cha với người con của mình.

Câu 4

Trong bài thơ Chim Thêu của tác giả Nguyễn Bính có viết:

"Bâng khuâng cặp mắt đen tròn

Chắt chiu vẳng tiếng chim non gọi đàn"

Đã sử dụng rất thành công biện pháp tu từ đảo ngữ giúp khắc họa rõ nét nỗi niềm bâng khuâng xao xuyến của người cha mong ngóng chờ đợi, nhấn mạnh tình cảm của người cha gợi ra một tâm trạng suy tư, trăn trở, cũng thể hiện sự tậm trung tỉ mỉ, cẩn trọng trong việc lắng nghe của cha, cho thấy sự trân trọng nâng niu từng khoảnh khắc, từng âm thanh nhỏ bé của thiên nhiên. Giúp người đọc hiểu được nỗi nhớ những của cha dành cho con ở xa nhà.

Câu 5

Bài thơ đã cho em ấn tượng về tình cảm phụ tử của nhân vật trữ tình. Một nỗi lòng nhớ mong, hi vọng của cha dành cho con đang ở nơi chiến trường, ôm chiếc áo thêu chim tặng con như ôm con vào lòng. Cho thấy lòng thương yêu của cha mẹ không bao giờ có giới hạn mà luôn vô tận và bao la. Và chúng ta luôn phải biết yêu thương trân trọng cảm ơn những tình yêu thương của cha mẹ đã hi sinh thầm lặng cho ta được những thành công trong hiện tại và tương lai.