Nguyễn Minh Sang
Giới thiệu về bản thân
câu1 :
câu2:
câu 1:Văn bản trên được viết theo thể thơ song thất lục bát.
câu2:Những dòng thơ cho thấy sự mong mỏi, ngóng trông tin chồng của người chinh phụ là:
-"Trải mấy xuân tin đi tin lại,"
-"Tới xuân này tin hãy vắng không."
-"Thấy nhạn luống tưởng thư phong,"
-"Gieo bỏi tiển tin dở còn ngờ,"
-"Ngoài rèm, thước chẳng mách tin,"
câu3:Khi nghĩ về người chồng đang chiến đấu nơi xa, người chinh phụ đã:
-"Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng": Sắm sửa áo bông cho chồng khi nghe hơi sương lạnh.
-"Để chữ gấm (4) phong thôi lại mở": Viết thư rồi lại mở ra, không biết gửi đi đâu.
-"Dạo hiên vắng thẩm gieo từng bước / Ngồi rèm thưa rủ thác (7) đòi phen": Đi đi lại lại trong hiên vắng, rồi ngồi rèm thưa, thể hiện sự bồn chồn, khắc khoải chờ đợi.
nhận xét về hành động ấy: Những hành động này cho thấy sự nhớ thương da diết, tình yêu sâu sắc và nỗi lo lắng của người vợ dành cho chồng. Những hành động lặp đi lặp lại, vô vọng đó càng làm nổi bật sự cô đơn, lẻ loi và tâm trạng bồn chồn, khắc khoải của người chinh phụ.
câu 4:Trong văn bản, biện pháp tu từ ẩn dụ được sử dụng một cách ấn tượng qua hình ảnh chim nhạn và chim thước. Chim nhạn thường ẩn dụ cho người đưa thư. Khi nhìn thấy "nhạn", người chinh phụ "luống tưởng thư phong", cho thấy khao khát được nhận tin tức từ chồng đã trở thành nỗi ám ảnh. Tương tự, chim thước (chim khách) là biểu tượng của tin vui, nhưng ở đây, nó "chẳng mách tin". Điều này làm nổi bật sự thất vọng và nỗi cô đơn đến tuyệt vọng của người chinh phụ. Việc sử dụng hai hình ảnh ẩn dụ này giúp làm cho lời thơ trở nên sinh động và khắc họa rõ nét hơn tâm trạng mong ngóng, mòn mỏi của người vợ nơi hậu phương.
câu5:-Trong văn bản, người chinh phụ đã thể hiện một tâm trạng cô đơn, buồn bã, lo lắng và khao khát hạnh phúc lứa đôi. Nàng sống trong sự chờ đợi mòn mỏi, không có tin tức, khiến tâm trạng lúc nào cũng bồn chồn, bơ phờ. Nỗi đau ly biệt và sự cô đơn đã lấn át toàn bộ cuộc sống của nàng.
-Qua tâm trạng đau khổ đó, chúng ta có thể thấy rõ những mất mát mà chiến tranh gây ra, không chỉ là sinh mạng mà còn là hạnh phúc gia đình, tuổi xuân của con người. Điều này càng làm nổi bật giá trị của cuộc sống hòa bình hiện nay. Hòa bình cho phép mọi người được sống gần gũi bên nhau, xây dựng hạnh phúc trọn vẹn mà không phải chịu cảnh chia ly, chờ đợi trong vô vọng. Thế hệ trẻ cần phải trân trọng và nỗ lực giữ gìn nền hòa bình ấy bằng cách học tập, lao động và đoàn kết để xây dựng một đất nước vững mạnh.
câu 1:Văn bản trên được viết theo thể thơ song thất lục bát.
câu2:Những dòng thơ cho thấy sự mong mỏi, ngóng trông tin chồng của người chinh phụ là:
-"Trải mấy xuân tin đi tin lại,"
-"Tới xuân này tin hãy vắng không."
-"Thấy nhạn luống tưởng thư phong,"
-"Gieo bỏi tiển tin dở còn ngờ,"
-"Ngoài rèm, thước chẳng mách tin,"
câu3:Khi nghĩ về người chồng đang chiến đấu nơi xa, người chinh phụ đã:
-"Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng": Sắm sửa áo bông cho chồng khi nghe hơi sương lạnh.
-"Để chữ gấm (4) phong thôi lại mở": Viết thư rồi lại mở ra, không biết gửi đi đâu.
-"Dạo hiên vắng thẩm gieo từng bước / Ngồi rèm thưa rủ thác (7) đòi phen": Đi đi lại lại trong hiên vắng, rồi ngồi rèm thưa, thể hiện sự bồn chồn, khắc khoải chờ đợi.
nhận xét về hành động ấy: Những hành động này cho thấy sự nhớ thương da diết, tình yêu sâu sắc và nỗi lo lắng của người vợ dành cho chồng. Những hành động lặp đi lặp lại, vô vọng đó càng làm nổi bật sự cô đơn, lẻ loi và tâm trạng bồn chồn, khắc khoải của người chinh phụ.
câu 4:Trong văn bản, biện pháp tu từ ẩn dụ được sử dụng một cách ấn tượng qua hình ảnh chim nhạn và chim thước. Chim nhạn thường ẩn dụ cho người đưa thư. Khi nhìn thấy "nhạn", người chinh phụ "luống tưởng thư phong", cho thấy khao khát được nhận tin tức từ chồng đã trở thành nỗi ám ảnh. Tương tự, chim thước (chim khách) là biểu tượng của tin vui, nhưng ở đây, nó "chẳng mách tin". Điều này làm nổi bật sự thất vọng và nỗi cô đơn đến tuyệt vọng của người chinh phụ. Việc sử dụng hai hình ảnh ẩn dụ này giúp làm cho lời thơ trở nên sinh động và khắc họa rõ nét hơn tâm trạng mong ngóng, mòn mỏi của người vợ nơi hậu phương.
câu5:-Trong văn bản, người chinh phụ đã thể hiện một tâm trạng cô đơn, buồn bã, lo lắng và khao khát hạnh phúc lứa đôi. Nàng sống trong sự chờ đợi mòn mỏi, không có tin tức, khiến tâm trạng lúc nào cũng bồn chồn, bơ phờ. Nỗi đau ly biệt và sự cô đơn đã lấn át toàn bộ cuộc sống của nàng.
-Qua tâm trạng đau khổ đó, chúng ta có thể thấy rõ những mất mát mà chiến tranh gây ra, không chỉ là sinh mạng mà còn là hạnh phúc gia đình, tuổi xuân của con người. Điều này càng làm nổi bật giá trị của cuộc sống hòa bình hiện nay. Hòa bình cho phép mọi người được sống gần gũi bên nhau, xây dựng hạnh phúc trọn vẹn mà không phải chịu cảnh chia ly, chờ đợi trong vô vọng. Thế hệ trẻ cần phải trân trọng và nỗ lực giữ gìn nền hòa bình ấy bằng cách học tập, lao động và đoàn kết để xây dựng một đất nước vững mạnh.
câu 1: Ba khổ thơ cuối của bài thơ “Chim thêu” đã thể hiện rõ tình yêu thương con tha thiết của người mẹ trong bối cảnh chiến tranh. Hình ảnh “treo áo còn bên bàn làm việc / Nhìn chim thêu, ba viết thơ này” cho thấy tình cảm gia đình luôn gắn bó mật thiết, dù cha mẹ bận rộn vẫn nhớ thương con. Nỗi nhớ ấy chan chứa trong từng hình ảnh thêu thùa giản dị, trong tiếng thơ gửi gắm ước vọng bình yên. Đặc biệt, khổ thơ cuối mở ra viễn cảnh tương lai tươi sáng: “Ngày mai lấy, nước non một khối / Giỗ bỏ này, thù nối niềm xưa / Đàn em con đó, bây giờ / Áo thêu chim trắng, tha hồ vui chơi.” Ở đây, niềm tin và hi vọng vào ngày mai hòa bình được thể hiện tha thiết. Hình ảnh “đàn em con” được vui chơi hồn nhiên trong chiếc áo chim thêu trở thành biểu tượng cho khát vọng đoàn tụ và hạnh phúc. Như vậy, ba khổ thơ cuối không chỉ ca ngợi tình mẫu tử sâu nặng mà còn gửi gắm niềm tin vào tương lai tươi đẹp, nơi mọi đứa trẻ được sống trong yêu thương và tự do.
câu 2: bài làm
Tình yêu thương của cha mẹ luôn là cội nguồn nuôi dưỡng tâm hồn mỗi người. Tuy nhiên, trong cuộc sống hiện đại, tình thương ấy có thể vừa là động lực, vừa trở thành áp lực cho con cái nếu cha mẹ không thấu hiểu và chia sẻ đúng cách.
Trước hết, tình yêu thương đúng mực của cha mẹ là nguồn động lực to lớn. Cha mẹ dành cho con sự quan tâm, che chở và niềm tin tưởng, từ đó con có thêm nghị lực vượt qua khó khăn, cố gắng vươn lên trong học tập và cuộc sống. Mỗi lời động viên, mỗi cử chỉ quan tâm đều trở thành điểm tựa tinh thần vững chắc giúp con trưởng thành. Không ít người đã thành công nhờ luôn mang trong mình khát vọng đáp đền tình thương, sự hy sinh thầm lặng của cha mẹ.
Tuy nhiên, tình yêu thương thiếu tinh tế đôi khi lại biến thành áp lực. Khi cha mẹ đặt ra quá nhiều kì vọng, áp đặt con theo ước mơ và mong muốn của mình, con dễ cảm thấy mệt mỏi, nặng nề, thậm chí mất đi sự tự tin và niềm vui sống. Không ít bạn trẻ rơi vào căng thẳng, khủng hoảng chỉ vì luôn phải sống theo chuẩn mực cha mẹ đặt ra. Như vậy, yêu thương nếu thiếu thấu hiểu có thể làm tổn thương chính người con mà cha mẹ muốn bảo vệ.
Là một người con, em luôn cảm nhận được tình thương bao la của cha mẹ. Em biết ơn và trân trọng tình cảm ấy, đồng thời cũng mong muốn cha mẹ thấu hiểu và tôn trọng những lựa chọn riêng. Bản thân em cũng cần sống có trách nhiệm, nỗ lực học tập, rèn luyện để tình thương của cha mẹ trở thành động lực tích cực.
Tóm lại, tình yêu thương của cha mẹ là vô giá, song để tình thương ấy trở thành động lực chứ không phải áp lực, cha mẹ cần thấu hiểu, đồng hành cùng con; còn con cái phải biết trân trọng, cố gắng để xứng đáng với tình cảm cao quý
câu 1: thể thơ của văng bản là : song thất lục bát
câu2 : Nhân vật trữ tình trong văn bản là : người mẹ
câu 3:Đề tài: Tình mẫu tử, tình cảm gia đình trong bối cảnh chiến tranh.
Chủ đề: Bài thơ ca ngợi tình thương yêu, nỗi nhớ con tha thiết của người mẹ; đồng thời thể hiện niềm tin, hi vọng vào ngày mai hòa bình để gia đình đoàn tụ, con trẻ được vui chơi hồn nhiên.
câu 4:Trong đoạn thơ "Chim thuê: của Nguyễn Bính có viết “Bằng khung vải cặp mắt đen tròn Chất chịu vàng tiếng chim non gọi đàn…”,
Nguyễn Bính đã sử dụng rất thành công biện pháp tu từ ẩn dị để diễn tả nỗi nhớ con và tình mẫu tử tha thiết. Trước hết, hình ảnh “khung vải – cặp mắt đen tròn” gợi liên tưởng đến đôi mắt trẻ thơ trong sáng, hồn nhiên, chứa đựng biết bao khát vọng yêu thương. Cách nhân hóa, ẩn dụ này khiến cho bức tranh thêu vốn vô tri bỗng trở nên sống động, như mang linh hồn của đứa con nhỏ. Tiếp đến, hình ảnh “tiếng chim non gọi đàn” gợi âm thanh ríu rít, trong trẻo, gắn liền với niềm vui của tuổi thơ. Từ “chất chịu vàng” còn gợi cảm giác ấm áp, dịu dàng, chứa chan thương nhớ, như tình cảm người mẹ gửi vào từng đường kim mũi chỉ. Ở đây, Nguyễn Bính không chỉ miêu tả cảnh thêu thùa giản dị mà còn thổi vào đó tình cảm gia đình sâu nặng, thiêng liêng. Hình ảnh thơ vì thế trở nên vừa gần gũi, vừa giàu sức gợi. Qua đó, ta thấy được nỗi nhớ con da diết và khát khao đoàn tụ của người mẹ trong thời chiến. Đồng thời, đoạn thơ còn ca ngợi vẻ đẹp bất tử của tình mẫu tử – một tình cảm vượt lên mọi hoàn cảnh, nuôi dưỡng niềm tin và hi vọng vào ngày mai hòa bình. Chính sự kết hợp tinh tế giữa hình ảnh thêu thùa và biện pháp tu từ đã tạo nên một nét chấm phá độc đáo, làm cho bài thơ trở nên trữ tình và sâu lắng.
câu 5: Văn bản “Chim thêu” đã gợi cho em ấn tượng sâu sắc về tình cảm của cha mẹ đối với con cái. Dù chiến tranh còn nhiều gian khổ, người mẹ vẫn gửi gắm tình thương và nỗi nhớ con qua từng đường kim mũi chỉ trên tấm áo thêu. Tình yêu ấy vừa tha thiết, vừa bền chặt, luôn hướng về con với niềm mong mỏi đoàn tụ. Qua đó, em cảm nhận được tình mẫu tử, phụ tử là tình cảm thiêng liêng, bất diệt, trở thành nguồn động lực để con người vượt qua mọi khó khăn. Văn bản giúp em thêm trân trọng tình cảm gia đình và biết yêu thương, hiếu kính cha mẹ hơn.